Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72 về một số giải pháp đột phá trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân được giới chuyên gia đánh giá là một dấu mốc đặc biệt quan trọng đối với ngành y tế Việt Nam. Với mục tiêu phát triển hệ thống y tế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết 72 không chỉ đưa ra những định hướng lớn mà còn thể hiện sự thay đổi căn bản về tư duy: Chuyển từ mô hình “chữa bệnh là chính” sang quản lý sức khỏe chủ động, lấy phòng bệnh và phát hiện sớm làm nền tảng.
Trao đổi với PV VietNamNet, PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Trưởng khoa Y tế Công cộng (Trường Đại học Y Dược TPHCM) cho rằng, Nghị quyết 72 đánh dấu một bước chuyển mang tính lịch sử của y tế Việt Nam. Theo ông, trong bối cảnh gánh nặng bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường ngày càng gia tăng, việc đặt phòng ngừa và phát hiện sớm ở vị trí trung tâm là xu hướng tất yếu, phù hợp với các hệ thống y tế tiên tiến trên thế giới.
Tháo gỡ điểm nghẽn nhiều năm
Một trong những điểm đột phá nổi bật của Nghị quyết 72, theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng, là chính sách khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân. Đây được xem là giải pháp trực diện nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn” kéo dài nhiều năm của hệ thống y tế cơ sở - nơi lẽ ra phải đảm nhận vai trò chăm sóc ban đầu và sàng lọc bệnh tật cho cộng đồng.
Trên thực tế, do việc phát hiện sớm bệnh lý còn hạn chế, nhiều người dân không còn niềm tin vào tuyến y tế cơ sở, dẫn đến tình trạng khám chữa bệnh vượt tuyến, dồn áp lực lên các bệnh viện tuyến trên và gây quá tải kéo dài.
“Khi người dân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, chi phí điều trị tăng cao và hiệu quả can thiệp giảm đáng kể”, PGS Dũng phân tích.
Tuy nhiên, ông Dũng nhấn mạnh rằng khám sức khỏe định kỳ chỉ phát huy giá trị nếu được triển khai đúng bản chất. Nếu chỉ dừng ở việc phân loại sức khỏe hình thức, thiếu chiều sâu chuyên môn và định hướng can thiệp, hiệu quả sẽ rất hạn chế. Ngược lại, khi tập trung vào phát hiện sớm những bệnh lý có thể điều trị hoặc kiểm soát, hệ thống y tế sẽ giảm được chi phí, người dân giảm gánh nặng bệnh tật, còn xã hội hưởng lợi lâu dài.
Để sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia, PGS Dũng cho rằng hoạt động sàng lọc cần được cá nhân hóa dựa trên cơ sở khoa học. Theo đó, có thể giãn chu kỳ khám đối với nhóm người trẻ, khỏe mạnh, ít nguy cơ trong khi tập trung tầm soát chuyên sâu cho người cao tuổi, người có bệnh nền hoặc yếu tố nguy cơ. Cách tiếp cận này vừa nâng cao hiệu quả vừa tránh dàn trải, lãng phí.
Khi y tế cơ sở được củng cố về nhân lực, cơ sở vật chất và cơ chế hoạt động, cùng với việc triển khai sổ sức khỏe điện tử liên thông, tuyến này sẽ thực sự trở thành “người gác cổng” tin cậy của hệ thống y tế. Khi đó, người dân có thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc ban đầu chất lượng ngay tại địa phương, đúng với tinh thần mà Nghị quyết 72 hướng tới.
 |
| Hình ảnh Trạm Y tế phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) trở nên khang trang sau khi được trang bị các máy móc hiện đại, có máy CT, nội soi hàng đầu Việt Nam. Ảnh: Như Ý |
Chuyển trọng tâm chữa bệnh sang phòng bệnh
Ở góc độ y tế dự phòng, PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (nay là Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế), đánh giá Nghị quyết 72 là một bước đột phá về tư duy. Nghị quyết đã xác lập rõ ràng sự dịch chuyển từ mô hình lấy chữa bệnh làm trung tâm sang lấy phòng bệnh làm nền tảng, với quan điểm phòng bệnh từ sớm, từ xa và toàn diện.
Tinh thần này tiếp tục được hiện thực hóa khi Quốc hội thông qua Luật Phòng bệnh. Theo đó, phạm vi phòng bệnh được mở rộng, không chỉ giới hạn ở bệnh truyền nhiễm mà còn bao gồm bệnh không lây nhiễm, sức khỏe tâm thần cộng đồng, dinh dưỡng và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe.
“Một đồng đầu tư cho phòng bệnh sẽ tiết kiệm được rất nhiều đồng chi cho chữa bệnh”, PGS Phu nhấn mạnh.
Đặc biệt, Luật Phòng bệnh đã xác lập phòng bệnh là một trụ cột của hệ thống y tế, thay vì chỉ là lĩnh vực bổ trợ như trước đây. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng để Nhà nước đầu tư lâu dài, có hệ thống cho y tế dự phòng và y tế cơ sở.
Công bằng y tế
Theo PGS Phu, một điểm sáng khác của Nghị quyết 72 là nhấn mạnh công bằng trong y tế, thể hiện qua việc ưu tiên các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ mang thai và người cao tuổi. Trong bối cảnh già hóa dân số nhanh, cách tiếp cận về dân số cũng đã chuyển từ kế hoạch hóa gia đình sang “dân số và phát triển”, gắn chặt với chăm sóc sức khỏe suốt vòng đời.
Những năm tới, Nhà nước tiếp tục triển khai các chương trình mục tiêu hướng tới vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, hỗ trợ người nghèo, đồng thời tăng cường khám chữa bệnh và sàng lọc sức khỏe định kỳ cho người dân.
“Việc mỗi người dân được khám sức khỏe ít nhất một lần mỗi năm chính là bước đi cụ thể để từng bước tiến tới công bằng y tế”, ông Phu khẳng định.
Một đột phá quan trọng khác là cơ chế tài chính. Nếu trước đây, quỹ bảo hiểm y tế chủ yếu chi cho khám chữa bệnh, thì nay đã được phép chi cho khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc bệnh không lây nhiễm. Đây được xem là bước ngoặt trong phân bổ nguồn lực, tạo điều kiện để phòng bệnh thực sự đi vào cuộc sống.
Về nhân lực, PGS Phu cho rằng thời gian tới sẽ thay đổi cách nhìn đối với y tế cơ sở và y tế dự phòng, coi đây là tuyến nền tảng chứ không phải tuyến “thấp”. Việc tổ chức trạm y tế xã thành đơn vị sự nghiệp có thu, có giám đốc trạm, cùng với chính sách tiền lương và phụ cấp ưu đãi, là những đột phá thể chế quan trọng.
Theo dõi những thay đổi của ngành y tế trong năm 2025, PGS Đỗ Văn Dũng cho rằng việc Quốc hội thông qua Luật Phòng bệnh và Luật Dân số đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp lý, tạo thế “kiềng ba chân” vững chắc cùng với Nghị quyết 72. Sự đồng bộ này đánh dấu bước chuyển quan trọng từ mô hình ứng phó thụ động sang chủ động kiến tạo sức khỏe bền vững cho người dân.
Theo ông, mục tiêu cốt lõi của chiến lược này không chỉ là kéo dài tuổi thọ, mà là nâng cao số năm sống khỏe mạnh của người dân, hướng tới mốc 75,5 tuổi thọ khỏe mạnh.
“Sống lâu nhưng nhiều năm cuối đời bệnh tật thì không thể coi là hạnh phúc. Điều quan trọng là sống lâu nhưng phải sống khỏe”, các chuyên gia cùng chung nhận định.