Thứ Tư, 15/04/2026 21:55 (GMT+7)

Bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

(SKTE) - Sáng 15/4, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”. Việc thực hiện triển khai Nghị quyết 80 có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa và con người trong chiến lược phát triển đất nước.
Ảnh đại diện tin bài

Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị”. (Ảnh: Đại Lộc)

Gia hạn sử dụng Thẻ nhà báo kỳ hạn 2021-2025 đến hết ngày 30/6/2026Vai trò của gia đình và nhà trường trong bảo vệ sức khỏe trẻ emQuan tâm hỗ trợ trẻ em, người khuyết tật và phát huy văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên mới

Sáng 15/4/2026, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80 – NQ/TW của Bộ Chính trị”.

Hội thảo thu hút nhiều học giả, nhà nghiên cứu, giảng viên, các nhà quản lý văn hóa – nghệ thuật, các văn nghệ sĩ trên cả nước tham dự, trao đổi và phát biểu ý kiến. Đại diện Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham dự, phát biểu ý kiến tại
Hội thảo.

Các lãnh đạo, đại biểu tại hội thảo. (Ảnh: Đại Lộc) 


Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW vào thực tiễn cuộc sống, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa

Trước đó, ngày 07/01/2026, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80 – NQ/TW về Phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là Nghị quyết đánh dấu bước ngoặt tư duy chiến lược, nâng văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội. Nghị quyết số 80 xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, và nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững, công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột tăng trưởng mới.

Đại học Văn hóa Hà Nội - là cơ sở đào tạo đại học lớn nhất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội là trung tâm giảng dạy và nghiên cứu các ngành thuộc lĩnh vực nhân văn, du lịch, báo chí và thông tin. Trường cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước.

Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của Nghị quyết số 80 – NQ/TW, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức phổ biến, quán triệt và học tập nội dung Nghị quyết đến toàn bộ cán bộ, giảng viên và sinh viên trong toàn trường. Hội thảo khoa học quốc gia: “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80 – NQ/TW của Bộ chính trị” là bước đi tiếp theo của Nhà trường nhằm nhanh chóng đưa Nghị quyết số 80 – NQ/TW đi vào thực tế đời sống, trong đó có hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, học tập của nhà trường.

PGS.TS Đinh Công Tuấn, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Văn hoá, Trưởng Ban Tổ chức hội thảo phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: BTC) 

Phát biểu mở đầu hội thảo, PGS.TS Đinh Công Tuấn, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Văn hoá, Trưởng Ban Tổ chức hội thảo cho biết: Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, sức mạnh nội sinh và khát vọng phát triển nhanh, bền vững. 

Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa và con người trong chiến lược phát triển đất nước.

PGS.TS Đinh Công Tuấn cho biết, tham luận gửi về Hội thảo làm nổi bật ba vấn đề lớn: Thứ nhất, có sự đồng thuận rất cao trong việc khẳng định vị thế mới của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước. Thứ hai, các tiếp cận nghiên cứu ngày càng cho thấy rõ tính liên thông giữa văn hóa với kinh tế, công nghệ, giáo dục, du lịch, đối ngoại và quản trị xã hội. Thứ ba, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục khẳng định về mặt tư tưởng, mà phải chuyển hóa các quan điểm lớn của Nghị quyết thành thể chế, chính sách, nguồn lực, mô hình quản trị và kết quả thực chất trong đời sống.

“Từ các tham luận gửi tới Hội thảo, có thể khẳng định rằng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị là một văn kiện có ý nghĩa chiến lược, mở ra một tầm nhìn mới cho phát triển văn hóa Việt Nam. Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là đưa văn hóa từ vị trí “quan trọng” trở thành vị trí “trung tâm” trong chiến lược phát triển đất nước; đưa phát triển văn hóa từ cách tiếp cận từng lĩnh vực riêng lẻ sang cách tiếp cận hệ sinh thái, liên ngành, hiện đại và hướng tới hiệu quả thực chất”. - PGS.TS Đinh Công Tuấn nhấn mạnh.

PGS-TS. Đỗ Chí Nghĩa - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội, phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Đại Lộc) 

Hội thảo cũng là diễn đàn để các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa – nghệ thuật, các doanh nghiệp gặp gỡ, chia sẻ kết quả nghiên cứu, những mô hình thành công và kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết, bởi một nghị quyết đúng và trúng chỉ thực sự phát huy giá trị khi được cụ thể hóa thành chương trình hành động, thành thiết chế thực thi, thành nguồn lực, thành sản phẩm, thành sự chuyển biến trong đời sống văn hóa và trong chất lượng phát triển con người Việt Nam.

Đồng thời, Hội thảo là cơ hội để tập hợp, giới thiệu và công bố những đề xuất, định hướng, giải pháp và khuyến nghị mang tính khoa học ứng dụng cao nhằm phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Các tham luận cho thấy bức tranh văn hóa Việt Nam hiện nay vừa có nhiều tín hiệu tích cực, vừa đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục giải quyết.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy không ít bất cập như: thể chế hóa còn chậm; quản trị còn phân tán; đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng; nguồn nhân lực còn thiếu và yếu; chuyển đổi số chưa đồng đều; thị trường văn hóa phát triển chưa bền vững; chênh lệch thụ hưởng văn hóa còn lớn; nguy cơ thương mại hóa, lệch chuẩn, xâm thực giá trị và xâm phạm bản quyền
trong môi trường số ngày càng gia tăng.

Từ Hội thảo khoa học quốc gia này, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đặt mục tiêu kết nối các nhà khoa học, các nhà quản lý và các văn nghệ sĩ, đơn vị doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo, giảng dạy sinh viên, đồng thời, kết quả hội thảo cũng giúp nhà trường có điều chỉnh, cập nhật nội dung, chương trình đào tạo theo hướng phù hợp, thiết thực và cụ thể hơn.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, phát biểu tại hội thảo. 

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, nhận định rằng: Nghị quyết 80 có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng trong đổi mới tư duy phát triển văn hóa. Không chỉ dừng ở định hướng, Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đồng thời bảo đảm nguồn lực và cơ chế thực thi đủ mạnh để đi vào cuộc sống.

Những nội dung trọng tâm của Nghị quyết tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn” mang tính hệ thống, như: Cơ chế thu hút đầu tư cho văn hóa; chính sách ưu đãi, tài trợ; vận hành hiệu quả các thiết chế văn hóa - thể thao; bảo đảm nguồn lực tương xứng; và xây dựng chính sách phát triển, đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn bày tỏ nhấn mạnh: "Đáng chú ý, một trong những điểm đổi mới quan trọng của Nghị quyết là thay đổi cách tiếp cận về đầu tư cho văn hóa. Thay vì chỉ nhìn nhận dưới góc độ chi ngân sách, Nghị quyết nhấn mạnh việc thiết kế cơ chế để huy động tổng hợp các nguồn lực xã hội. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng và định hướng; khu vực tư nhân và xã hội trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển".

Tiết mục văn nghệ đặc sắc tại hội thảo. 


Chủ đề mở rộng đa dạng, nội dung thảo luận từ lý luận đến thực tiễn

Hội thảo đã nhận được 162 tham luận của các nhà nghiên cứu, giảng viên, các nhà quản lý đến từ nhiều cơ quan, đại học, viện nghiên cứu như Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Công an nhân dân, Trường Đại học Ngoại thương, Học viện Báo chí và Tuyền truyền, Viện Văn hóa – Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Viện Trần Nhân Tông (Đại học Quốc gia Hà Nội)….

Các tham luận tập trung bàn luận, trao đổi năm cụm vấn đề chính:
- Thứ nhất, vấn đề hoàn thiện thế chế và đối mới phương thức quản lý văn hóa. Trong vấn đề này, các nhà nghiên cứu đề nghị đẩy nhanh thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW; bảo đảm tính đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về văn hóa với pháp luật về giáo dục, khoa học - công nghệ, đầu tư, tài chính, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, an ninh mạng và thương mại điện tử; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển; phát huy vai trò kiến tạo của nhà nước; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình. Nhiều tham luận đã chỉ ra rằng không gian văn hóa ngày nay không chỉ tồn tại trong các thiết chế truyền thống, mà đang mở rộng mạnh mẽ sang môi trường số.

Vì vậy, quản trị vănhóa cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu, nền tảng số, chỉ số đo lường, công cụ giám sát hiện đại, đồng thời phải chú trọng bản quyền số, chủ quyền văn hóa số và an ninh văn hóa trên không gian mạng.

Trung tướng, PGS.TS, NGƯT Phan Xuân Tuy, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Chính trị Công an Nhân dân, và các đại biểu tham quan tại khu vực trưng bày sách, tài liệu văn hóa, giáo dục... tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.  

- Thứ hai, vấn đề xây dựng hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Vấn đề này nhận được nhiều ý kiến bàn luận sâu sắc, cụ thể và thực tế của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý,… Một số tham luận đã phân tích khá sâu cácvấn đề mới đang đặt ra đối với hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay, như: sự biến đổi trong quan hệ gia đình và liên thế hệ; những tác động đa chiều của mạng xã hội và truyền thông số; nguy cơ phân mảnh giá trị; xu hướng tiêu dùng văn hóa nhanh; hiện tượng lệch pha giữa nhận thức và thực hành giá trị; thách thức trong việc gìn giữ bản sắc mà không khép kín, trong hội nhập mà không hòa tan.

Các nghiên cứu về thanh niên, sinh viên, lực lượng công an, quân đội, cũng như những tham luận tiếp cận từ đạo đức Phật giáo, từ văn hóa lãnh đạo, từ làng nghề truyền thống… đều cho thấy hệ giá trị không phải là vấn đề trừu tượng, mà phải được kiến tạo trong môi trường sống cụ thể, thông qua giáo dục, thực hành và nêu gương.

- Thứ ba, vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong xây dựng thương hiệu. Đã có 37 tham luận tập trung thảo luận, gợi mở vấn đề này. Một trong những đóng góp quan trọng của nhóm tham luận này là chỉ ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy bảo tồn tĩnh sang tư duy bảo tồn động; từ việc lưu giữ đơn thuần sang dữ liệu hóa, số hóa, kể chuyện di sản, nâng cao trải nghiệm công chúng, đổi mới hoạt động bảo tàng, phát triển sản phẩm văn hóa - du lịch, xây dựng thương hiệu điểm đến và tạo sinh kế
bền vững cho cộng đồng.

Nhiều trường hợp nghiên cứu cho thấy khi di sản được kết nối đúng cách với kinh tế sáng tạo, với truyền thông số và với thị trường du lịch, giá trị của di sản không bị giảm sút, mà trái lại có thể được lan tỏa mạnh mẽ hơn, đóng góp nhiều hơn cho phát triển.

- Thứ tư, vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Theo các nhà nghiên cứu, Việt Nam có nhiều tiềm năng trong các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, nội dung số, game, thiết kế, xuất bản, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu
diễn và truyền thông sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo ra công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh thực sự, cần đồng thời giải quyết nhiều điểm nghẽn: hành lang pháp lý; thị trường; bản quyền; hạ tầng số; cơ chế đầu tư; liên kết công - tư; nhân lực trung gian;
năng lực quảng bá, phát hành và mở rộng ra thị trường quốc tế.

Vì vậy, phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam phải gắn với công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, thương hiệu quốc gia và hội nhập quốc tế; đồng thời phải tạo được những cụm ngành, những ngành mũi nhọn, những địa bàn động lực và những sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh, lan tỏa, dẫn dắt thị trường.

- Thứ năm, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tạo động lực phát triển văn hóa. Một điểm nhấn quan trọng được nhiều tham luận đề cập là nhu cầu phải đổi mới căn bản tư duy đào tạo nhân lực văn hóa. Nhân lực văn hóa thời kỳ mới phải có ba năng lực đồng thời: năng lực chuyên môn văn hóa - nghệ thuật; năng lực quản trị và tổ chức; năng lực công nghệ, dữ liệu và thích ứng số. Cùng với đó là yêu cầu phát triển văn hóa lãnh đạo, đạo đức công vụ, tinh thần phục vụ, năng lực liên kết đa ngành và năng lực làm việc trong môi trường toàn cầu hóa.

 PGS.TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, nhấn mạnh: "Đáng chú ý, một trong những điểm đổi mới quan trọng của Nghị quyết là thay đổi cách tiếp cận về đầu tư cho văn hóa... Trong đó, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng và định hướng; khu vực tư nhân và xã hội trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển". (Ảnh: Đại Lộc)


Chiến lược triển khai, phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trên cơ sở nghiên cứu các tham luận, có thể thấy nổi lên ba nhận thức lớn. Thứ nhất, có sự đồng thuận rất cao trong việc khẳng định vị thế mới của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước. Thứ hai, các tiếp cận nghiên cứu ngày càng cho thấy rõ tính liên thông giữa văn hóa với kinh tế, công nghệ, giáo dục, du lịch, đối ngoại và quản trị xã hội. Thứ ba, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục khẳng định về mặt tư tưởng, mà phải chuyển hóa các quan điểm lớn của Nghị quyết thành thể chế, chính sách, nguồn lực, mô hình quản trị và kết quả thực chất trong đời sống.

 Các Thầy Cô giáo, đại biểu tham dự tại hội thảo.
Khu vực trưng bày, giới thiệu, sách, tài liệu văn hóa, giáo dục... (Ảnh: Đại Lộc) 

Từ các tham luận gửi tới Hội thảo, có thể khẳng định rằng Nghị quyết số 80- NQ/TW của Bộ Chính trị là một văn kiện có ý nghĩa chiến lược, mở ra một tầm nhìn mới cho phát triển văn hóa Việt Nam. Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là đưa văn hóa từ vị trí “quan trọng” trở thành vị trí “trung tâm” trong chiến lược phát triển đất nước; đưa phát triển văn hóa từ cách tiếp cận từng lĩnh vực riêng lẻ sang cách tiếp cận hệ sinh thái, liên ngành, hiện đại và hướng tới hiệu quả thực chất.

Các tham luận của 5 chủ đề lớn tuy tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng có một điểm chung rất căn bản: muốn phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới, nhất thiết phải phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội; phải xây dựng con người Việt Nam toàn diện; phải hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực; phải biến di sản thành nguồn lực phát triển; phải thúc đẩy công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; phải đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời phải bảo vệ bản sắc, an ninh và chủ quyền văn hóa trong môi trường số.

Đại Lộc
Khoảng cách giữa đào tạo y khoa và thực hành lâm sàng
Khoảng cách giữa đào tạo y khoa và thực hành lâm sàng

(SKTE) - Một sinh viên y khoa có thể nắm rất vững lý thuyết, nhớ rõ phác đồ, hiểu đúng quy trình. Nhưng khi bước vào phòng khám, đứng trước một bệnh nhi đang khóc, một phụ huynh đang lo lắng, mọi thứ không còn đi theo đúng trình tự đã học. Khoảng cách giữa đào tạo và thực hành không nằm ở việc thiếu kiến thức, mà ở cách kiến thức đó được sử dụng trong những tình huống rất thật, rất người.

Thức khuya từ nhỏ và những ảnh hưởng âm thầm đến sự phát triển lâu dài của trẻ
Thức khuya từ nhỏ và những ảnh hưởng âm thầm đến sự phát triển lâu dài của trẻ

(SKTE) - Không ít gia đình xem việc trẻ thức khuya là điều “có thể chấp nhận”, miễn là hôm sau vẫn dậy đi học, vẫn ăn uống, sinh hoạt bình thường. Nhưng có những thay đổi không diễn ra ngay để khiến người lớn phải lo lắng. Chúng tích lũy rất chậm, rất kín đáo, và thường chỉ bộc lộ khi đã đi qua một quãng đủ dài. Giấc ngủ của trẻ, vì thế, không chỉ là chuyện giờ giấc, mà là câu chuyện của nhịp phát triển – nơi một thói quen nhỏ có thể để lại ảnh hưởng lớn hơn chúng ta vẫn nghĩ.

Trẻ ăn đủ nhưng vẫn thiếu nghịch lý dinh dưỡng trong gia đình hiện đại
Trẻ ăn đủ nhưng vẫn thiếu: nghịch lý dinh dưỡng trong gia đình hiện đại

(SKTE) - Trong nhiều gia đình hiện nay, câu chuyện dinh dưỡng của trẻ em không còn là “ăn có đủ hay không”, mà là “ăn như vậy đã thực sự đúng chưa”. Khi điều kiện sống được cải thiện, khẩu phần ăn trở nên phong phú hơn, nhưng một nghịch lý lại dần xuất hiện: trẻ không thiếu năng lượng, nhưng vẫn thiếu những yếu tố cần thiết cho phát triển lâu dài. Đây không chỉ là vấn đề của bữa ăn, mà là cách chúng ta đang hiểu và nuôi dưỡng trẻ trong một bối cảnh sống đã thay đổi rất nhiều.

Đô thị hóa và những thay đổi âm thầm trong mô hình bệnh tật
Đô thị hóa và những thay đổi âm thầm trong mô hình bệnh tật

(SKTE) - Đô thị không chỉ mở rộng về không gian, mà còn âm thầm thay đổi cách con người sống – và từ đó, thay đổi cách bệnh tật hình thành. Khi nhịp sống ngày càng nhanh, những vấn đề sức khỏe cũng không còn xuất hiện theo cách quen thuộc. Ít đột ngột hơn, nhưng tích lũy nhiều hơn. Ít rõ ràng hơn, nhưng dai dẳng hơn. Điều này đặt ra một yêu cầu mới cho hệ thống y tế: không chỉ điều trị tốt, mà phải nhận diện sớm những thay đổi còn rất mờ.

Bộ Y tế chính thức công nhận E-CPR là kỹ thuật mới tại Việt Nam
Bộ Y tế chính thức công nhận E-CPR là kỹ thuật mới tại Việt Nam

(SKTE) - Bộ Y tế vừa ban hành quyết định công nhận Hồi sức tim phổi ngoại cơ thể (E-CPR) là kỹ thuật mới, lần đầu tiên được áp dụng chính thức tại Việt Nam. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực hồi sức cấp cứu, mở ra cơ hội sống cho những bệnh nhân ngưng tuần hoàn không đáp ứng với các biện pháp cấp cứu thông thường.

Logo Tạp chí Sức khỏe trẻ em
© Bản quyền 2024 Sức khỏe Trẻ em
Hotline: Hà Nội - (024) 37 765 156 / TP HCM - 0936813116