Thứ Năm, 12/03/2026 11:48 (GMT+7)

Lượng thịt cá cần thiết mỗi ngày trong thực đơn cho trẻ tuổi đến trường

Protein là thành phần quan trọng của các hormon, các enzym (men), tham gia quá trình sản xuất kháng thể. Thực phẩm giàu đạm có thể kể đến thịt gà, thịt bò, phô mai, nấm, trứng, sữa, thịt lợn, tôm, cá hồi.
Ảnh đại diện tin bài

Bữa ăn học đường cân đối các thành phần dinh dưỡng để trẻ phát triển thể lực và trí lực.

Những thực phẩm giàu đạm

Theo Viện Dinh dưỡng, thịt, thủy sản, trứng là nguồn cung cấp protein (chất đạm) động vật cho cơ thể. Protein là thành phần cơ bản của các vật chất sống. Protein tham gia vào thành phần cấu tạo tế bào. Protein là thành phần quan trọng của các hormon, các enzym (men), tham gia quá trình sản xuất kháng thể. Thực phẩm giàu đạm có thể kể đến thịt gà, thịt bò, phô mai, nấm, trứng, sữa, thịt lợn, tôm, cá hồi. 

Thực phẩm giàu protein động vật còn giàu các yếu tố vi lượng như canxi, sắt, kẽm, đồng, vitamin A, vitamin D, vitamin nhóm B... Thịt lợn, thịt bò, thịt gà có nhiều sắt, kẽm. Cá đồng có nhiều canxi, cá biển có nhiều vitamin A, vitamin D và các acid béo không no cần thiết. Lòng đỏ trứng có nhiều vitamin A, vitamin D, sắt. Tôm, cua và các thủy sản khác chứa nhiều vi chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ như i-ốt, đồng, kẽm và canxi.

Thực phẩm giàu protein thực vật như đậu đỗ khô, đặc biệt đỗ tương có nhiều vitamin nhóm B, bữa ăn cần phối hợp protein động vật và thực vật.

Chế độ ăn thiếu protein, trẻ dễ bị suy dinh dưỡng protein năng lượng, giảm sức đề kháng cơ thể. Chế độ ăn thừa protein cũng không tốt vì gây gánh nặng cho gan, thận và tăng đào thải canxi.

Một đơn vị ăn thịt, thủy sản, trứng và các hạt giàu đạm cung cấp 7g protein, tương đương 38g thịt lợn nạc, 71g thịt gà cả xương, 55g trứng gà, 44g cá bỏ xương, 87g tôm biển sống, 65g đậu phụ hoặc 30g vừng lạc.

Cụ thể, 4 miếng thịt lợn nạc có trọng lượng bằng 38g. Thịt gà cả xương có trọng lượng bằng 71g (7,8 x 5cm). 1 quả trứng gà có trọng lượng bằng 55g, 1 quả trứng vịt cỡ trung bình có trọng lượng bằng 60g, 5 quả trứng chim cút có trọng lượng bằng 60g. Cá đã bỏ xương có trọng lượng bằng 44g.  3 con tôm biển sống có trọng lượng bằng 87g. 1 bìa đậu phụ có trọng lượng bằng 65g (9x3x2cm).  5 thìa cà phê đầy muối vừng lạc có trọng lượng bằng 30g.

Lượng đạm vừa đủ mỗi ngày trong thực đơn

Theo Viện Dinh dưỡng, số lượng đơn vị ăn thịt, thủy sản, trứng và các hạt giàu đạm của trẻ 12 – 14 tuổi là nên ăn trung bình 5 – 7 đơn vị ăn thịt, thủy sản, trứng và các loại hạt giàu đạm/ngày. Mỗi bữa ăn nên có 2 – 3 loại thực phẩm cung cấp chất đạm, cần phối hợp giữa thực phẩm cung cấp chất đạm động vật và thực vật.

Mỗi ngày nên có ít nhất một món ăn từ thủy sản như tôm, cua, cá, trai, hến, sò, ngao, mực... để bổ sung canxi và các chất khoáng cho cơ thể.

Theo ThS Nguyễn Văn Tiến, Viện Dinh dưỡng, không có thực phẩm nào là tốt hay xấu, không có thực phẩm nào là hoàn thiện để có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Mỗi loại thực phẩm có chứa một số loại chất dinh dưỡng ở tỷ lệ khác nhau vì vậy bữa ăn hàng ngày cần đa dạng và phối hợp nhiều loại thực phẩm (10 – 15 loại thực phẩm) từ 4 nhóm chính. Các chất dinh dưỡng có trong các thực phẩm này sẽ bổ sung cho nhau và giá trị dinh dưỡng của bữa ăn sẽ hoàn hảo phù hợp với nhu cầu của cơ thể. Bữa ăn hợp lý là bữa ăn cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể, ăn đa dạng, phối hợp nhiều loại từ 4 nhóm thực phẩm: Gulucid, Protein, Lipid, Vitamin và khoáng chất.

Với trẻ tiểu học ở trường không ăn bán trú hoặc ăn bán trú không có bữa phụ cần đảm bảo cung cấp cho trẻ 3 bữa chính, không để trẻ nhịn ăn sáng đi học. Bữa sáng, bữa trưa cung cấp khoảng 35% tổng nhu cầu năng lượng của một ngày, bữa tối cung cấp 30%. Với trường tiểu học ăn bán trú có bữa phụ thì phân chia thành 4 bữa: năng lượng của bữa sáng từ 25-30%, năng lượng bữa trưa 35%, năng lượng bữa phụ 10%, năng lượng bữa tối 25-30% tổng nhu cầu năng lượng.

Một lưu ý với phụ huynh và nhà trường, không ăn mặn; nên sử dụng muối i-ốt trong chế biến thức ăn. Trẻ từ 6 – 11 tuổi nên sử dụng dưới 4 gam muối/ngày. Mặt khác, để trẻ có cơ thể khỏe mạnh và chuyển hóa tốt cần uống đủ nước. Trẻ nên uống nước từng ít một và chia nhiều lần trong ngày. Nhu cầu nước của trẻ hàng ngày là 2500 ml nước, trong đó lượng nước được cung cấp trong quá trình chuyển hóa của cơ thể 350-400 ml, cung cấp từ thức ăn chiếm khoảng 30%, phần còn lại là lượng nước uống khoảng 1300 – 1500 ml (khoảng 6-8 ly nước).

 Để đảm bảo sức khỏe và phòng tiêu chảy cần uống nước đun sôi, nhà trường cần bố trí nước uống cho học sinh ngay tại lớp và sân trường. Không nên uống nước ngọt đóng chai, nước có ga vì không có lợi cho sức khỏe. Trường học hoặc xung quanh cạnh trường học cấm bán các loại nước này, cấm bán các đồ ăn vặt không đảm bảo an toàn sức khỏe của trẻ.

Đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm trong khi chế biến tại bếp ăn ở nhà trường: Thực hiện 10 nguyên tắc vàng chế biến thực phẩm an toàn và 5 chìa khóa vàng để có thực phẩm an toàn. Bếp ăn nhà trường được xây dựng theo quy chuẩn bếp ăn một chiều, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhân viên bếp ăn phải được tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm, được kiểm tra sức khỏe định kỳ. Đảm bảo nguồn thực phẩm cung cấp phải là thực phẩm tươi, an toàn. Đảm bảo quy trình sơ chế, nấu nướng, dụng cụ đựng thực phẩm, xoong nồi, nước sạch, phân chia khẩu phần đạt tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, hạn chế mất chất dinh dưỡng trong khi sơ chế và chế biến.


PV (suckhoedoisong.vn)
Dấu hiệu dậy thì sớm và muộn ở trẻ
Dấu hiệu dậy thì sớm và muộn ở trẻ

(SKTE) - Dậy thì là cột mốc phát triển sinh lý quan trọng. Việc nhận biết đúng các dấu hiệu dậy thì sớm hoặc muộn giúp phụ huynh có hướng chăm sóc và đưa trẻ tiếp cận y tế kịp thời.

Sức khỏe là vốn xã hội Tại sao lãnh đạo kinh tế phải hiểu y tế
Sức khỏe là vốn xã hội: Tại sao lãnh đạo kinh tế phải hiểu y tế?

(SKTE) -Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và khả năng chống chịu của hệ thống xã hội, sức khỏe cộng đồng không còn chỉ là vấn đề của ngành y tế mà đã trở thành một yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Bài viết phân tích sức khỏe dưới góc nhìn “vốn xã hội” và “vốn con người”, từ đó chỉ ra rằng lãnh đạo kinh tế nếu không hiểu y tế sẽ khó xây dựng được các chiến lược phát triển bền vững. Thông qua phân tích kinh nghiệm quốc tế và các bài học từ đại dịch COVID-19, bài viết đề xuất cách tiếp cận liên ngành trong hoạch định chính sách, trong đó y tế phải được coi là một trụ cột của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

Số ca mắc sởi tại Mỹ vượt mốc 1 200 ca
Số ca mắc sởi tại Mỹ vượt mốc 1.200 ca

(SKTE) - Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) vừa cập nhật dữ liệu mới nhất, ghi nhận hơn 1.280 ca mắc sởi trên toàn quốc tính đến đầu tháng 3/2026. Đáng chú ý, tỷ lệ bệnh nhân chưa tiêm chủng hoặc không rõ tiền sử tiêm chủng chiếm tới 92%, tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng.

Đào tạo y khoa trong kỷ nguyên số Từ kiến thức chuyên môn đến năng lực hệ thống
Đào tạo y khoa trong kỷ nguyên số: Từ kiến thức chuyên môn đến năng lực hệ thống

(SKTE)- Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ y tế, nhưng sự thay đổi sâu sắc hơn lại nằm ở yêu cầu đối với nguồn nhân lực. Nếu trước đây đào tạo y khoa tập trung vào tích lũy kiến thức và kỹ năng lâm sàng, thì trong kỷ nguyên dữ liệu và quản trị rủi ro, điều hệ thống cần không chỉ là bác sĩ giỏi chuyên môn, mà là những chuyên gia hiểu cấu trúc vận hành, biết phân tích dữ liệu và có tư duy hệ thống. Đào tạo y khoa vì thế phải dịch chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực quản trị trong môi trường y tế phức hợp.

Phụ nữ – kiến trúc sư thầm lặng của sức khỏe thế hệ Từ trách nhiệm gia đình đến trụ cột phát triển quốc gia
Phụ nữ – kiến trúc sư thầm lặng của sức khỏe thế hệ: Từ trách nhiệm gia đình đến trụ cột phát triển quốc gia

(SKTE) - Trong mọi xã hội, sức khỏe của một thế hệ không được tạo nên chỉ bởi hệ thống bệnh viện hay những tiến bộ của khoa học y học. Nó được hình thành từ những lựa chọn nhỏ bé nhưng bền bỉ trong đời sống hằng ngày: bữa ăn, giấc ngủ, thói quen chăm sóc, sự quan tâm giữa các thành viên trong gia đình. Ở trung tâm của những lựa chọn ấy, người phụ nữ thường là người giữ vai trò âm thầm nhưng quyết định. Họ không chỉ chăm sóc, mà đang định hình nền tảng sức khỏe cho thế hệ tương lai.

Vì sao tăng men gan và gan nhiễm mỡ dù không uống bia rượu
Vì sao tăng men gan và gan nhiễm mỡ dù không uống bia rượu

(SKTE) - Tình trạng men gan cao và gan nhiễm mỡ thường bị lầm tưởng chỉ xuất phát từ việc lạm dụng đồ uống có cồn. Tuy nhiên, theo ghi nhận y khoa, ngày càng nhiều người trẻ được chẩn đoán mắc bệnh lý này dù hoàn toàn không sử dụng rượu bia, bắt nguồn chủ yếu từ thói quen dinh dưỡng và sinh hoạt thiếu khoa học.

Logo Tạp chí Sức khỏe trẻ em
© Bản quyền 2024 Sức khỏe Trẻ em
Hotline: Hà Nội - (024) 37 765 156 / TP HCM - 0936813116