Thứ Năm, 16/07/2026 19:53 (GMT+7)

Bảo tồn & Phát huy di sản nghệ thuật Đờn ca tài tử

(SKTE) - Ba ngày trước lễ tình nhân năm 2014, đại diện tổ chức di sản thế giới UNESCO trao bằng vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 12 năm qua, các nhà quản lý văn hóa, đội ngũ nghệ nhân luôn trăn trở việc bảo tồn và phát huy di sản sao cho xứng tầm với danh hiệu UNESCO trao tặng.
Ảnh đại diện tin bài

Ban nhạc ĐCTT biểu diễn tại Pháp năm 1906.

Kỳ 2: “CON NHÀ TÔNG”Kỳ 3: VÀO “LÒ” ĐỜN CA TÀI TỬTPHCM: Ra quân đợt cao điểm 150 ngày đêm tăng tốc khám sức khỏe toàn dân


KỲ 1: NHỌC NHẰN DI SẢN TRĂM NĂM

MỘT THẾ KỶ THEO CHA ÔNG ĐI MỞ CÕI 

Đờn ca tài tử Nam bộ (gọi tắt ĐCTT) ra đời đến nay ngoài trăm năm. Dấu mốc được xác định vào năm 1886, khi vua Hàm Nghi khởi chiếu Cần Vương. Phong trào này nhanh chóng bị dập tắt, nhiều sĩ phu yêu nước, trong đó có các nhạc quan triều đình chạy vào Nam tham gia các phong trào kháng Pháp. Trên bước đường dong ruổi theo thời cuộc, trôi dạt vào đất Đồng Nai, Sài Gòn, Long An, Mỹ Tho, Cần Thơ, Bạc Liêu… rồi xuống tận miệt thứ Cà Mau. Mang theo bước chân ly hương trên sông nước, ngoài những vật bất ly thân còn có tiếng đờn, lời ca làm hành trang tinh thần trên bước đường lưu tán. Dòng nhạc lễ cổ truyền vào Nam được thâu nhận, canh tân, phát triển và dần hình thành một dòng nhạc đi vào tâm tư, tình cảm và hoàn cảnh thực tế của người dân Nam bộ. Dần dà được điển hóa thành 20 bài bản tổ của ĐCTT ngày nay. 

Cố GS.TS. Trần Văn Khê trong nhiều bài phát biểu, tài liệu nghiên cứu đã khẳng định gốc nhạc Huế, gốc nhạc Quảng Nam của nghệ thuật ĐCTT: “Thể loại âm nhạc được gọi là ĐCTT sinh ra từ sự gặp gỡ của âm nhạc Huế và âm nhạc Quảng Nam. Thời của ông nội tôi, Trần Quang Diệm (1853 - 1925), nhạc Huế rất thịnh hành ở miền Nam Việt Nam. Chính ông nội tôi là người chơi đờn tỳ bà rất giỏi và cũng là người đặc biệt giỏi chơi nhạc Huế…”.  

Theo tài liệu: “Góp phần nghiên cứu ĐCTT Nam bộ” của TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm, khoảng ba thập niên cuối thế kỷ XIX, cùng với những bài đờn Huế, đờn Quảng, những nhóm “nhạc đờn cây” càng lúc càng được ưa chuộng. “Nhạc đờn cây” ở đây thuộc dàn nhạc lễ trong dân gian Nam bộ lúc đó. Họ gồm các thầy tụng, thầy tế trong các đám tang, cùng nhau hình thành dàn đờn sử dụng các nhạc cụ dây kéo, trống lễ, nhạc khí có dây gẩy như đờn kìm, đờn tranh…. Những người chơi đờn dần dần không chỉ là người trong nghề, nhạc công của dàn nhạc lễ, mà còn bất cứ ai thích chơi đờn, hòa đờn, hòa ca… Không biết tự bao giờ, lối chơi đờn, hòa ca theo kiểu “tài tử không chuyên” đã trở thành phổ biến khắp Nam bộ và được người trong giới gọi là “ĐCTT”. 

NHỮNG BẬC NGHỆ NHÂN TIỀN BỐI. 

Sau biến cố Kinh đô của triều đình Hàm Nghi thất thủ, ông Nguyễn Quang Đại cùng nhiều quan lại dẫn theo thân bằng, quyến thuộc chạy về phương Nam lánh nạn. Với vốn nhạc Huế sẵn có, ông đã cải biên một số bài bản và nhanh chóng trở thành đặc trưng âm nhạc Nam bộ, tạo nên phong trào ĐCTT ở vùng đất Biên Hòa, Sài Gòn – Gia Định, sau đó lan sang các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre do ông đứng đầu. 

Năm 1996, Sở Văn hóa - Thông tin Long An, tổ chức Hội thảo khoa học “Về nghệ nhân tiên phong Nhạc lễ và nhạc tài tử Nguyễn Quang Đại”. GS. Tô Ngọc Thanh (1934 – 2024) đã khẳng định: “Nhân dân Nam Bộ vẫn coi ông Nguyễn Quang Đại là người có công khai sáng ra loại nhạc tài tử này. Bởi lẽ chính nghệ nhân Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) đã tập hợp những người trẻ tuổi, yêu thích đờn ca, dạy cho họ vốn âm nhạc Huế và sáng tác thêm nhiều bài bản mới âm nhạc tài tử. Các môn đệ của ông hội đủ các thành phần trong xã hội lúc bấy giờ, đều là những người có ngón đờn tài ba và đặc biệt rất mê say âm nhạc truyền thống của dân tộc”.

Cố GS.TS. Trần Văn Khê trong một lần họp bàn về hồ sơ ĐCTT chuẩn bị trình lên UNESCO. 

Tuy vậy, thân thế của Nguyễn Quang Đại đến nay vẫn còn hiếm tài liệu nhắc đến, chỉ thấy có tài liệu của giáo Thinh (Nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Văn Thinh), học trò đời thứ hai của ông, nguyên Trưởng khoa Nhạc dân tộc Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (nay Nhạc viện TP.HCM) ghi lại rằng: Ông vào Nam thời điểm sau khi phong trào Cần Vương tan rã, tá túc ở Sài Gòn và một số địa phương khác, trong đó có đất Long An. Thời gian ở Sài Gòn, nhạc sư Nguyễn Quang Đại đào tạo được một số nhạc sĩ tài năng như ông Sáu Thới (tức Lại Văn Thới) và ông Tám Hạnh. Ông Sáu Thới sau đó truyền dạy lại cho các học trò của mình, trong đó có giáo Thinh, Tư Nghị, Năm Cần… Thời gian sau đó, nhạc sư Nguyễn Quang Đại về vùng Cần Đước (Long An) tiếp tục dạy nhạc, đào tạo được nhiều thế hệ học trò lừng danh như: Sáu Thoàng, Chín Chiêu, Năm Tịnh, Sáu Giỏi, Bảy Lung, Ba Đống… Ngoài ra, ông còn có nhiều môn đệ ở xứ Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre. Sau đó, ông về lại Sài Gòn sống với người con trai thứ hai là cậu Hai Tuân ở Rạch Cát (Bến Bình Đông, quận 8), rồi mãn phần trong cảnh nghèo khó mà không rõ năm chính xác. Mộ phần xiêu lạc tới nay chưa tìm thấy. 

Năm 1995, Câu lạc bộ Ca nhạc Tài tử trực thuộc Nhà Văn hóa Quận 8, TP.HCM lần đầu tiên tổ chức lễ húy kỵ và thờ linh vị ông tại địa phương. Sau đó theo nguyện vọng của chính quyền và nhân dân tỉnh Long An, linh vị ông được rước về thờ tại đình Vạn Phước (Cần Đước). Tháng Giêng hàng năm, cùng với lễ Kỳ Yên, lễ húy kỵ nhạc sư Nguyễn Quang Đại được tổ chức trang trọng tại đình Vạn Phước nhằm tôn vinh, nhắc nhở giới nghề, nhất là thế hệ trẻ hôm nay nhớ đến công lao của các thế hệ nghệ nhân tiền bối có công khai sáng, lưu truyền di sản văn hóa nghệ thuật phi vật thể ĐCTT Nam bộ. 

Ở miền Tây, dẫn dắt phong trào ĐCTT khi ấy có ông Lê Tài Khí (1870 – 1948) đứng đầu. Theo các tài liệu ghi chép, đầu thế kỷ XX, ở Nam bộ đã hình thành nhiều nhóm ca nhạc hoạt động dưới hình thức tài tử và nhanh chóng phát triển khắp lục tỉnh Nam kỳ. Ở Bạc Liêu có nhạc sư Lê Tài Khí, thường được gọi là Nhạc Khị (con ông Lê Văn An - một bầu gánh hát bội nổi tiếng lúc bấy giờ). Nhạc Khị đứng ra thành lập Ban nhạc lễ chuyên phục vụ các đám cúng, đây cũng là Ban nhạc lễ đầu tiên trên đất Bạc Liêu. Người nhạc sư bị mù và dị tật một chân nhưng là một nghệ nhân nhạc lễ có tài. Nhạc Khị được xem là người có công lớn đối với ĐCTT trong việc canh tân, hiệu đính 20 bài bản tổ, được giới nghệ sĩ cổ nhạc tôn làm hậu tổ! Cố GS.TS. Trần Văn Khê từng rất khâm phục tài năng của Nhạc Khị và xem ông là một người “lạ thường”.

Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, hoạt động ĐCTT ở Bạc Liêu phát triển cả về số lẫn chất lượng, vang danh khắp Nam kỳ. Các nghệ nhân ĐCTT Bạc Liêu xuất hiện ngày càng nhiều, nhiều người đã trở thành nghệ sĩ chuyên nghiệp, đa số đều do Nhạc Khị đào tạo, điển hình có Sáu Lầu, Cai Đệ, Mười Khói, Ba Chột… Trong số các môn đệ giỏi của Nhạc Khị là Sáu Lầu (Cao Văn Lầu). Tiếp nối sự nghiệp của thầy, Cao Văn Lầu cùng với các bạn đồng môn của mình đứng ra thành lập Ban ĐCTT Bạc Liêu, gồm Sáu Lầu đờn tranh, Mười Khói đờn kìm, Bảy Cuội đờn cò, Ba Chột đờn sến… Giới chuyên ca gồm có nghệ sĩ Ba Lất, Bảy Kiên, Hai Húa, Năm Mỹ, cô Ba Vàm Lẽo… Ban ĐCTT này một thời khuấy động phong trào ĐCTT không chỉ nội tỉnh mà tiếng tăm vang khắp Nam kỳ.

Đặc biệt, nhiều người còn biết đến nhạc sư Cao Văn Lầu với bản Dạ cổ hoài lang – một bản nhạc ngay từ khi ra đời đã trở thành “ông vua” trên sân khấu cải lương, trải qua hơn 100 năm vẫn còn nguyên giá trị. Không chỉ thế, Dạ cổ hoài lang được nhiều thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ phát huy, phát triển thành loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc vùng Nam bộ và nay phát triển rộng rãi trên thế giới.

Ban nhạc tài tử được biết đến sớm nhất ở vùng đất Nam bộ là của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) với cô Ba Bắc ở Mỹ Tho, Tiền Giang. Ban nhạc này không chỉ biểu diễn trong nước, vào đầu năm 1900 còn tham gia diễn tấu tại Hội chợ quốc tế Paris và Hội chợ đấu xảo thuộc địa ở Marseille (Pháp) năm 1906. Tại Hội chợ quốc tế Paris, ban nhạc đã diễn tấu bản nhạc tài tử nổi tiếng là “vũ khúc Đông Dương”. Năm 2013, bản “Vũ khúc Đông Dương” đã được phục dựng và trình diễn tại Hội nghị âm nhạc truyền thống quốc tế Thượng Hải (Trung Quốc), với sự tham dự của hơn 500 nhạc sĩ và nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc trên thế giới.

Cũng xin nhắc lại, kể từ sau các lần diễn tấu tại hội chợ quốc tế ở Pháp, những lần hội chợ sau đó ở Sài Gòn, đều có sự hiện diện của ĐCTT. Nở rộ nhất vào thập niên 30 của thế kỷ trước, ĐCTT được các hãng sản xuất đĩa nhựa như Việt Hải, Hồng Hoa, BéKa… thu và phát hành rộng rải. Những danh ca, danh cầm thời ấy được nhiều người biết đến cũng nhờ vào cách phổ biến này. Đây chính là cái may của hậu thế vì còn giữ được tiếng đờn, lời ca tài hoa, ngẫu hứng của nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhạc sĩ tài tử lừng danh. 

Cao Phương
Nước ngập sau mưa không chỉ là chuyện giao thông, mà còn là câu chuyện sức khỏe cộng đồng
Nước ngập sau mưa không chỉ là chuyện giao thông, mà còn là câu chuyện sức khỏe cộng đồng

(SKTE) - Sau một cơn mưa lớn, điều dễ thấy nhất là đường ngập, xe chết máy, người đi làm về muộn, trẻ em tan học trong cảnh nước lênh láng trước cổng trường. Nhưng phía sau sự bất tiện ấy còn có một vấn đề ít được chú ý hơn: sức khỏe cộng đồng. Nước ngập không chỉ làm chậm một chuyến đi. Nó có thể mang theo rác thải, nước cống, vi khuẩn, hóa chất, mầm bệnh và nhiều nguy cơ âm thầm đối với trẻ em, người già, người lao động phải di chuyển ngoài đường.

Đề xuất mốc 18 tuổi cho người thân, 25 tuổi với người ngoài
Đề xuất mốc 18 tuổi cho người thân, 25 tuổi với người ngoài

SKTE - Nhằm bảo vệ sức khỏe thể chất, tinh thần của người hiến và ngăn ngừa nạn mua bán tạng, Bộ Y tế vừa đề xuất quy định mới: Người từ đủ 18 tuổi chỉ được hiến bộ phận cơ thể cho thành viên gia đình, và phải từ đủ 25 tuổi nếu hiến cho người không cùng huyết thống.

Rèn cho trẻ kỹ năng quản lý cảm xúc
Rèn cho trẻ kỹ năng quản lý cảm xúc

(SKTE) - Một đứa trẻ biết quản lý cảm xúc không phải là đứa trẻ lúc nào cũng ngoan, im lặng, nghe lời và không bao giờ tức giận. Quản lý cảm xúc là khi trẻ dần học được cách nhận ra mình đang buồn, giận, sợ, thất vọng hay quá tải; biết nói ra điều đó bằng lời phù hợp; biết dừng lại trước khi làm tổn thương bản thân hoặc người khác. Đây không chỉ là kỹ năng ứng xử, mà là nền tảng quan trọng của sức khỏe tinh thần và nhân cách trẻ.

Cải thiện sinh kế cho người dân tộc thiểu số Sơn La, thông qua nông nghiệp và sức khỏe dinh dưỡng
Cải thiện sinh kế cho người dân tộc thiểu số Sơn La, thông qua nông nghiệp và sức khỏe dinh dưỡng

(SKTE) - Hội thảo chia sẻ và nhân rộng kết quả, bài học kinh nghiệm từ mô hình dự án “Cải thiện sinh kế của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La thông qua nông nghiệp và cải thiện dinh dưỡng”, do Save the Children Việt Nam, phối hợp với Ban Quản lý Dự án tỉnh Sơn La tổ chức sáng 24/9 tại Hà Nội. Đây là dịp để các cơ quan quản lý nhà nước, đối tác phát triển, chuyên gia, đại diện cộng đồng cùng nhìn lại những kết quả đạt được sau 3 năm triển khai dự án; đồng thời thảo luận các giải pháp nhằm duy trì và nhân rộng các mô hình hiệu quả trong thời gian tới.

Logo Tạp chí Sức khỏe trẻ em
© Bản quyền 2024 Sức khỏe Trẻ em
Hotline: Hà Nội - (024) 37 765 156 / TP HCM - 0936813116