Thứ Hai, 30/03/2026 11:12 (GMT+7)

Báo động chất lượng đào tạo y khoa-Bài 2: Hổng từ chính sách đến thực tế

Những lỗ hổng trong quy định về mở ngành, điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo cùng thực trạng thiếu hụt cơ sở thực hành đang đặt ra cảnh báo nghiêm trọng đối với chất lượng đào tạo y khoa tại Việt Nam.
Ảnh đại diện tin bài

Sinh viên Trường Y Dược nhập học

Bài 1: Thiếu chuẩn đo chất lượng

Giảng viên 86 tuổi

Không chỉ bất cập ở đầu vào, thiếu hụt cơ sở thực hành, hệ thống đào tạo bác sĩ hiện nay còn bộc lộ nhiều vấn đề về đội ngũ giảng viên.

Thông tin công khai trên cổng điện tử của Trường ĐH Trưng Vương (Vĩnh Phúc cũ) cho thấy, trong đề án đăng kí mở ngành Y khoa, trường này có 43 giảng viên, gồm 3 giáo sư, 8 phó giáo sư, 18 tiến sĩ và 12 thạc sĩ tham gia giảng dạy các học phần cơ sở và chuyên ngành. Tuy nhiên, cơ cấu độ tuổi lại đặt ra nhiều băn khoăn: có giảng viên sinh năm 1940 (86 tuổi), 1 người sinh năm 1946 (80 tuổi), 1 người sinh năm 1949 (77 tuổi); phần lớn thuộc thế hệ 1950-1969.

Từ báo cáo ba công khai và đề án tuyển sinh của nhiều trường ĐH ngoài công lập, có thể nhận thấy, ngành y là một trong những lĩnh vực đứng đầu về tỉ lệ giảng viên lớn tuổi. Điều này đặt ra câu hỏi về tính cập nhật, khả năng thích ứng với những tiến bộ nhanh chóng của y học hiện đại cũng như yêu cầu về cường độ làm việc trong đào tạo lâm sàng.

Một chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục nhận định, đội ngũ giảng viên ở một số cơ sở đào tạo ngành sức khỏe đang tồn tại theo kiểu “chắp vá”. Theo quy định, việc mở ngành y khoa phải được sự đồng ý của cả Bộ Y tế và Bộ GD&ĐT, trong đó yêu cầu về đội ngũ giảng viên là phải có tối thiểu 15 giảng viên chủ chốt có trình độ tiến sĩ và đang trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, không ít cơ sở, đặc biệt là ngoài công lập gặp khó khăn trong việc tìm đủ nhân sự đạt chuẩn, nhất là ở các chuyên ngành đặc thù như Sản hay Răng - Hàm - Mặt.

Điểm đáng lo ngại là việc kiểm soát đội ngũ này chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy tờ. Khi các trường khai báo trên hệ thống dữ liệu, cơ quan quản lí chỉ có thể phát hiện sự trùng lặp giữa các cơ sở đào tạo, nhưng khó xác minh tính thực chất của đội ngũ. Chỉ khi có đoàn kiểm tra trực tiếp mới có thể phân định rõ giảng viên "thật" hay chỉ là "đứng tên". Theo chuyên gia, nếu rà soát toàn diện, sẽ có thêm nhiều quyết định xử phạt như Trường ĐH Kinh Bắc vừa qua.

Điều kiện thực hành lâm sàng cũng là điểm nghẽn lớn. Trong khi y khoa là ngành học đặc thù, đòi hỏi thời gian thực hành dài và cường độ cao, thì nhiều trường ĐH đa ngành lại tham gia đào tạo bác sĩ trong bối cảnh thiếu bệnh viện giảng dạy hoặc mối liên kết lâm sàng chưa đủ mạnh. Hệ quả là sinh viên khó tiếp cận với các tình huống thực tế, thiếu cơ hội rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp.

Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu nền tảng thực hành không được bảo đảm, rất khó hình thành đội ngũ bác sĩ có năng lực đáp ứng yêu cầu của hệ thống y tế hiện đại. Việc đào tạo khi đó sẽ nặng về lí thuyết, thiếu chiều sâu thực tiễn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám chữa bệnh trong tương lai.

Trong bối cảnh này, yêu cầu chuẩn hóa và siết chặt điều kiện mở ngành y khoa được đánh giá là cần thiết. Khi các tiêu chí về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và cơ sở thực hành được quy định minh bạch, nhất quán, các cơ sở đào tạo sẽ phải vận hành đúng chức năng, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong bảo đảm chất lượng đầu ra.

Luật hóa tiêu chuẩn

Một trong những vấn đề đang được tranh luận là việc có nên giới hạn đào tạo bác sĩ chỉ ở các trường chuyên ngành y. Thực tế cho thấy, đã có những bác sĩ tốt nghiệp từ các trường không chuyên e ngại khi nhắc đến nơi đào tạo của mình. Điều này phần nào phản ánh sự thiếu đồng đều về chất lượng giữa các cơ sở đào tạo.

GS. TS Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường ĐH Y dược (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng, việc siết chặt đào tạo trong lĩnh vực đặc thù như y khoa là hoàn toàn đúng hướng. Theo ông, trong nhiều năm qua, việc mở ngành diễn ra theo kiểu “trăm hoa đua nở”, thiếu kiểm soát, dẫn đến chất lượng đầu ra không ổn định, trong khi văn bằng bác sĩ giữa các trường lại có giá trị tương đương.

 Tiết học của sinh viên ngành Y

Ông nhấn mạnh, quản lí đào tạo y khoa cần được luật hóa và áp dụng thống nhất giữa các trường công lập và tư thục. Hiện nay, khối trường công phải tuân thủ nhiều tiêu chuẩn khắt khe hơn về đội ngũ giảng viên, đặc biệt là yêu cầu về độ tuổi, trình độ và minh chứng nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, ở một số trường tư, vẫn tồn tại tình trạng giảng viên chỉ "đứng tên" mà không trực tiếp giảng dạy.

Theo GS. Thành, cần quy định thống nhất tiêu chuẩn đội ngũ giảng viên. Ít nhất 50% đội ngũ giảng viên trong bộ máy quản lí của các trường tư phải là giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng chuyên môn. Với các trường công, tỉ lệ này hiện là 100%.

Đối với những giảng viên đã quá tuổi lao động nhưng vẫn muốn tiếp tục công tác, cần tuân thủ đầy đủ quy trình xét chọn, tránh tình trạng kéo dài làm việc mang tính hình thức.

Ở góc độ tuyển sinh, GS. Lê Ngọc Thành cho rằng, việc nhiều trường sử dụng kết quả học bạ THPT để xét tuyển vào ngành y là chưa phù hợp. Theo ông, học bạ chỉ phản ánh một phần kết quả học tập, không thể đánh giá toàn diện năng lực, tư duy và phẩm chất cần thiết của một bác sĩ.

Để bảo đảm công bằng và lựa chọn đúng thí sinh, các cơ sở đào tạo cần dựa vào các kì thi chuẩn hóa như kì thi tốt nghiệp THPT hoặc các kì thi đánh giá năng lực. Đây là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng quốc tế, nơi mà đầu vào ngành y thường được thiết kế rất khắt khe.

Tại nhiều quốc gia, sinh viên phải hoàn thành bậc cử nhân trước khi bước vào chương trình đào tạo bác sĩ. Điều này giúp bảo đảm nền tảng kiến thức vững chắc cũng như khả năng tư duy độc lập trước khi tiếp cận đào tạo chuyên sâu.

Trong đào tạo y khoa, lí thuyết chỉ đóng vai trò nền tảng, trong khi thực hành lâm sàng mới là yếu tố quyết định. Thông qua quá trình thực tập tại bệnh viện, sinh viên được trực tiếp tham gia vào các hoạt động khám chữa bệnh, từ đó hình thành kĩ năng chuyên môn, tư duy phản xạ và đạo đức nghề nghiệp.

GS. Thành cho rằng, điều kiện thực hành cần được đánh giá trên hai phương diện. Thứ nhất là đội ngũ hướng dẫn lâm sàng phải có trình độ chuyên môn vững, có kinh nghiệm giảng dạy và tham gia nghiên cứu khoa học. Thứ hai là số lượng và cơ cấu bệnh nhân phải đủ đa dạng để sinh viên có cơ hội tiếp cận nhiều tình huống khác nhau.

Tuy nhiên, hiện nay một số cơ sở đào tạo vẫn đăng kí thực hành tại các bệnh viện không đủ tiêu chuẩn. Thậm chí, có bệnh viện tiếp nhận sinh viên từ nhiều trường khác nhau, vượt quá quy định cho phép, dẫn đến quá tải và ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

Từ thực trạng này, nhiều chuyên gia đề xuất cần rà soát toàn diện và ban hành quy định chặt chẽ hơn trước khi cho phép mở ngành y khoa. Việc kiểm soát phải được thực hiện đồng bộ từ tuyển sinh, đội ngũ giảng viên đến cơ sở thực hành.

Theo thống kê, cả nước hiện có 215 cơ sở đào tạo lĩnh vực sức khỏe, trong đó có 139 trường CĐ và 66 trường ĐH. Số lượng lớn các cơ sở tham gia đào tạo đặt ra yêu cầu cấp thiết về kiểm soát chất lượng, tránh tình trạng mở ngành tràn lan.

GS.TS Trần Diệp Tuấn, Bí thư Đảng ủy Trường ĐH Y Dược TPHCM bày tỏ quan điểm ủng hộ việc chấn chỉnh đào tạo y khoa. Ông cho rằng, hiện nay có những trường chưa đáp ứng đủ điều kiện về đội ngũ giảng viên và cơ sở thực hành nhưng vẫn tham gia đào tạo.

Theo ông, bác sĩ tại bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ đào tạo thực hành, nhưng không thể thay thế giảng viên ĐH. Sinh viên y khoa cần được trang bị nền tảng lí luận vững chắc, không chỉ đơn thuần là thực hành.

Về định hướng thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, cần siết chặt cả việc mở ngành mới và kiểm định các chương trình đang đào tạo. Đặc biệt, lĩnh vực y khoa cần có bộ tiêu chuẩn kiểm định riêng, phù hợp với đặc thù nghề nghiệp. Chỉ khi thực hiện đồng bộ các giải pháp từ quy hoạch, kiểm soát đến nâng cao chất lượng, hệ thống đào tạo y khoa mới có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và hội nhập quốc tế.

Các chuyên gia cho rằng, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lí, siết chặt tiêu chuẩn mở ngành, đồng thời tăng cường kiểm định độc lập. Chỉ những cơ sở đủ năng lực mới được đào tạo bác sĩ, qua đó bảo đảm an toàn cho người bệnh và nâng cao uy tín của ngành y trong bối cảnh hội nhập.

 

Nghiêm Huê (tienphong.vn)
Dinh dưỡng học đường Nền tảng âm thầm cho sức khỏe và tương lai của trẻ
Dinh dưỡng học đường: Nền tảng âm thầm cho sức khỏe và tương lai của trẻ

(SKTE) - Một bữa ăn ở trường không chỉ giúp trẻ no bụng trong vài giờ. Nếu được tổ chức khoa học, an toàn và phù hợp lứa tuổi, dinh dưỡng học đường có thể góp phần quan trọng vào sự phát triển thể chất, trí tuệ, miễn dịch, khả năng học tập và hình thành thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ suốt cuộc đời.

Mục tiêu 2030 100 dân số tham gia Bảo hiểm y tế
Mục tiêu 2030: 100% dân số tham gia Bảo hiểm y tế

SKTE - Chính phủ vừa đặt lộ trình bao phủ Bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân chậm nhất vào năm 2030. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều chính sách hỗ trợ tài chính cho nhóm yếu thế và các biện pháp siết chặt quản lý, chống trốn đóng BHYT sẽ được đồng loạt triển khai.

Chính sách mới về phụ cấp cho nhân viên y tế
Chính sách mới về phụ cấp cho nhân viên y tế

(SKTE) - Nghị định 192/2026/NĐ-CP chuẩn bị có hiệu lực từ giữa tháng 7, mang đến những điều chỉnh quan trọng về chế độ phụ cấp đặc thù cho lực lượng y tế các tuyến. Đây được xem là nỗ lực ghi nhận và hỗ trợ thiết thực đối với những đóng góp của đội ngũ chăm sóc sức khỏe.

Siết giờ chơi game của trẻ liệu có khả thi
Siết giờ chơi game của trẻ liệu có khả thi?

Nỗ lực đưa thời lượng giải trí trực tuyến của trẻ em dưới 16 tuổi về ngưỡng tối đa 1 giờ mỗi ngày trong dự thảo sửa đổi mới đây đang nhận được sự quan tâm từ dư luận với nhiều góc nhìn đa chiều.

Sức khỏe là tài sản duy nhất càng tiêu hao càng khó phục hồi
Sức khỏe là tài sản duy nhất càng tiêu hao càng khó phục hồi

(SKTE) - Con người dành gần như cả cuộc đời để tích lũy. Chúng ta học tập để có tri thức, làm việc để tạo dựng sự nghiệp, tiết kiệm để bảo đảm tài chính và không ngừng đầu tư cho tương lai. Thế nhưng, giữa rất nhiều tài sản mà mỗi người cố gắng sở hữu, có một tài sản đặc biệt thường bị xem nhẹ nhất: sức khỏe.

Nhận diện sớm sốt xuất huyết
Nhận diện sớm sốt xuất huyết

(SKTE) - Những cơn sốt cao đột ngột, kéo dài miên man và không thuyên giảm khi dùng thuốc hạ nhiệt thường là hồi chuông cảnh báo sớm của bệnh sốt xuất huyết. Việc nhận diện đúng các dấu hiệu đặc trưng trong những ngày đầu sẽ giúp người bệnh tiếp cận y tế kịp thời, tránh được nhiều biến chứng nguy hiểm.

Bữa ăn cho trẻ tự kỷ nên bắt đầu từ đâu
Bữa ăn cho trẻ tự kỷ nên bắt đầu từ đâu?

(SKTE) - Chăm sóc bữa ăn cho trẻ tự kỷ thường là một hành trình nhiều thử thách đối với các bậc phụ huynh. Việc xây dựng một chế độ dinh dưỡng khoa học và phù hợp không chỉ giúp trẻ cải thiện sức khỏe thể chất, mà còn hỗ trợ tích cực cho quá trình can thiệp hành vi và phát triển nhận thức.

Vai trò, sức mạnh của Cộng hưởng từ trong chẩn đoán hình ảnh, điều trị và chăm sóc sức khỏe
Vai trò, sức mạnh của Cộng hưởng từ trong chẩn đoán hình ảnh, điều trị và chăm sóc sức khỏe

(SKTE) - Ngày 25/7/2026, Bệnh viện Đa khoa Việt Đức (tỉnh Phú Thọ) tổ chức Hội thảo khoa học "Vai trò, sức mạnh Cộng hưởng từ trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý phức tạp: Thần kinh – Ung bướu Sản phụ khoa". Đây là dịp để các Bác sĩ có thể trao đổi kinh nghiệm, hợp tác với các chuyên gia, nâng cao kiến thức chuyên môn về ứng dụng Cộng hưởng từ MRI, góp phần vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị các bệnh lý phức tạp về: Thần kinh, Ung bướu, sản phụ khoa...

Logo Tạp chí Sức khỏe trẻ em
© Bản quyền 2024 Sức khỏe Trẻ em
Hotline: Hà Nội - (024) 37 765 156 / TP HCM - 0936813116