Thứ Hai, 15/09/2025 21:59 (GMT+7)

Bột ngọt có an toàn không?

(SKTE) - Bột ngọt là gia vị quen thuộc trong bếp ăn của nhiều người trong gia đình. Mặc dù đã được các tổ chức y tế uy tín trên thế giới nghiên cứu và đánh giá về tính an toàn, nhiều người vẫn băn khoăn nếu nấu ở nhiệt độ cao, gia vị này có ảnh hưởng không?
Ảnh đại diện tin bài

Bột ngọt, có nơi gọi là mì chính - gia vị thân thuộc trong gian bếp của nhiều gia đình - Ảnh minh họa

Bột ngọt có an toàn không?

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Lâm - nguyên Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, thành phần chính của bột ngọt là glutamate, một loại axit amin phổ biến giúp cấu tạo nên chất đạm (protein) trong cơ thể sống. Bột ngọt có vị umami, hay còn gọi là vị ngọt thịt, giúp làm gia tăng vị ngon cho thực phẩm, giúp chúng ta ăn ngon miệng hơn.

"Là gia vị được sử dụng phổ biến nên tính an toàn của bột ngọt đã được rất nhiều tổ chức y tế có uy tín trên thế giới nghiên cứu và đánh giá về tính an toàn. Trong nhiều năm nghiên cứu và đánh giá, các tổ chức y tế và sức khỏe hàng đầu trên thế giới đều đánh giá bột ngọt là gia vị an toàn trong chế biến thực phẩm", bác sĩ Lâm cho hay.

Theo đó vào năm 1987, tại hội nghị khoa học quốc tế lần thứ 31, JECFA (Ủy ban Hỗn hợp các chuyên gia về phụ gia thực phẩm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO)) đã chính thức xác nhận bột ngọt là gia vị an toàn cho sử dụng và không quy định liều dùng hằng ngày cho gia vị này.

Ngoài ra hiện nay các tổ chức sức khỏe khác như Ủy ban Khoa học về thực phẩm của Cộng đồng châu Âu (EC/SCF) hay Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm của Mỹ (FDA) cũng có cùng kết luận bột ngọt là loại gia vị an toàn, không gây ảnh hưởng không tốt nào đến sức khỏe.

Ở Việt Nam, Bộ Y tế cũng đưa bột ngọt vào trong danh mục các loại phụ gia thực phẩm được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm.

"Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý bột ngọt chỉ là gia vị thực phẩm có chức năng điều vị an toàn. Khi chế biến thực phẩm cần phải đảm bảo các chất dinh dưỡng cần thiết như chất đạm, chất bột, chất xơ, chất béo, khoáng chất... có trong thực phẩm tự nhiên như thịt, cá, trứng, sữa, rau củ quả.

Ngoài ra trong các nguồn thực phẩm tự nhiên cũng có chứa glutamate, và glutamate này về bản chất cũng giống như glutamate trong bột ngọt.

Chính vì thế thực phẩm chế biến từ các nguyên liệu tự nhiên thường đã có được vị ngon ngọt - vị umami, và việc sử dụng một lượng thích hợp bột ngọt và các gia vị khác tùy theo nhu cầu từng món ăn sẽ giúp món ăn được ngon miệng hơn mà thôi", bác sĩ Lâm khuyến cáo.

Ở nhiệt độ cao, bột ngọt có biến đổi?

Về vấn đề này, Viện Dinh dưỡng quốc gia chia sẻ trả lời của bác sĩ Chu Quốc Lập, nguyên Phó cục trường Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế. Theo đó, các nghiên cứu khoa học gần đây đã chỉ ra rằng bột ngọt chỉ mất tác dụng điều vị và có thể bị biến đổi khi bị đốt cháy liên tục trong vòng 2 giờ, ở nhiệt độ trên 300 độ C.

Các nhà khoa học đã cho đốt cháy bột ngọt trong điều kiện nhiệt độ tăng dần từ thấp đến cao. Khi đạt đến nhiệt độ từ 300 độ C và kéo dài trong 2 giờ thì bột ngọt bị biến đổi thành các dẫn xuất màu đen và mất tác dụng điều vị.

Trong điều kiện thời gian và nhiệt độ cao như vậy, các thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm tự nhiên như protein (chất đạm), đường… cũng bị cháy đen và có thể trở thành chất gây hại cho sức khỏe.

Thực tế cho thấy trong các quá trình chế biến món ăn thông thường, nhiệt độ cao nhất hầu như khó đạt đến 300 độ C. Ví dụ các món canh, món luộc thì nhiệt độ sôi xấp xỉ nhiệt độ sôi của nước là 100 độ C.

Các món chiên, rán thì bơ có nhiệt độ sôi từ 115-130 độ C, mỡ lợn có nhiệt độ sôi từ 150-160 độ C, dầu thực vật có nhiệt độ sôi từ 170-200 độ C và cao tối đa là khoảng 260 độ C.

"Như vậy về cơ bản, bột ngọt không bị biến đổi và không ảnh hưởng đến sức khỏe khi sử dụng ở điều kiện và nhiệt độ nấu ăn thông thường. Do đó có thể nêm nếm mì chính vào bất cứ thời điểm nào trong quá trình nấu ăn đều được", bác sĩ Lập cho hay.

LInh Hân
Một đứa trẻ khác biệt không cần bị sửa chữa, mà cần được hiểu
Một đứa trẻ khác biệt không cần bị sửa chữa, mà cần được hiểu

(SKTE) - Trong nhiều cuộc trò chuyện với phụ huynh, có một câu hỏi lặp lại khá nhiều: “Làm sao để con trở lại bình thường?”. Câu hỏi đó nghe rất tự nhiên, nhưng cũng cho thấy một điều – chúng ta đang nhìn sự khác biệt của trẻ như một điều cần phải sửa. Trong khi thực tế, có những đứa trẻ không cần trở thành “bình thường” theo cách người lớn định nghĩa, mà cần được hiểu đúng để có thể phát triển theo cách phù hợp với chính mình.

Suy dinh dưỡng ẩn Khi trẻ “ăn đủ” nhưng vẫn thiếu chất cần thiết
Suy dinh dưỡng ẩn: Khi trẻ “ăn đủ” nhưng vẫn thiếu chất cần thiết

(SKTE) - Nhiều phụ huynh hiện nay nhìn vào cân nặng của con, thấy bé bụ bẫm, mũm mĩm, cảm giác yên tâm rằng con đang khỏe mạnh. Thế nhưng, sức khỏe không chỉ được đo bằng số trên cân hay chiều cao tăng đều. Thực tế, có những trẻ “ăn đủ” nhưng cơ thể vẫn thiếu vi chất, sức đề kháng yếu, phát triển chiều cao chậm, hoặc mệt mỏi kéo dài. Đây là suy dinh dưỡng ẩn – một thách thức âm thầm nhưng ảnh hưởng lâu dài đến thể chất, tinh thần và tương lai của trẻ.

Hành trình tiến bộ của trẻ khuyết tật chậm mà đầy ý nghĩa
Hành trình tiến bộ của trẻ khuyết tật chậm mà đầy ý nghĩa

(SKTE) - Có những hành trình không thể đo bằng mốc thời gian hay những chuẩn phát triển quen thuộc. Với trẻ khuyết tật, sự tiến bộ không đến theo cách người lớn vẫn kỳ vọng. Có khi phải mất nhiều tháng cho một thay đổi rất nhỏ. Nhưng nếu đủ kiên nhẫn để nhìn lại, sẽ thấy những bước đi tưởng chừng chậm ấy chưa bao giờ là vô nghĩa – chỉ là chúng diễn ra theo một cách rất khác.

Những dấu hiệu sức khỏe ở trẻ mà người lớn thường “cho qua”
Những dấu hiệu sức khỏe ở trẻ mà người lớn thường “cho qua”

(SKTE) - Không phải mọi vấn đề sức khỏe ở trẻ đều bắt đầu bằng sốt cao hay cơn đau rõ rệt. Có những thay đổi rất nhỏ, diễn ra lặng lẽ trong sinh hoạt hằng ngày: một cái nheo mắt khi nhìn bảng, một thói quen cúi sát vở, hay chỉ là việc trẻ nhanh mệt hơn vào cuối ngày. Những điều này hiếm khi khiến người lớn lo lắng ngay. Nhưng chính vì “không đáng kể”, chúng lại dễ bị bỏ qua – cho đến khi không còn là những chi tiết nhỏ nữa.

Phòng khám đa khoa trong hệ sinh thái y tế Vai trò đang bị đánh giá thấp
Phòng khám đa khoa trong hệ sinh thái y tế: Vai trò đang bị đánh giá thấp

(SKTE) - Nhiều gia đình có thói quen rất rõ: bệnh nhẹ thì “tự theo dõi thêm”, bệnh nặng mới đi bệnh viện. Phòng khám đa khoa vì thế thường đứng ở một vị trí lưng chừng – không hẳn là lựa chọn đầu tiên, cũng không phải điểm đến khi thật sự lo lắng. Nhưng nếu nhìn từ thực tế vận hành của hệ thống y tế, chính khoảng “lưng chừng” ấy lại là nơi có thể quyết định rất nhiều thứ: phát hiện sớm hay muộn, xử lý đơn giản hay phức tạp, và quan trọng hơn, hành trình chăm sóc sức khỏe có được đi đúng hướng ngay từ đầu hay không.

Trường Đại học Y Dược - ĐHQG Hà Nội chính thức đào tạo Tiến sĩ ngành Răng – Hàm – Mặt
Trường Đại học Y Dược - ĐHQG Hà Nội chính thức đào tạo Tiến sĩ ngành Răng – Hàm – Mặt

(SKTE) - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa chính thức cho phép Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đào tạo trình độ Tiến sĩ ngành Răng – Hàm – Mặt. Đây là dấu mốc quan trọng trong chiến lược nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực nha khoa trình độ cao và thúc đẩy nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam.

Tái khám và theo dõi sau điều trị Mắt xích thường bị bỏ quên
Tái khám và theo dõi sau điều trị: Mắt xích thường bị bỏ quên

(SKTE) - Trong nhiều trường hợp, hành trình chăm sóc sức khỏe cho trẻ kết thúc ngay khi triệu chứng biến mất. Đứa trẻ hết sốt, hết ho, ăn uống trở lại, gia đình thở phào – và mọi thứ được xem như đã xong. Nhưng với người làm nghề, đó thường chưa phải là điểm kết thúc, mà chỉ là lúc cơ thể bắt đầu bước vào giai đoạn hồi phục thực sự. Chính khoảng “đã ổn rồi” ấy, nếu không được theo dõi, lại là nơi dễ phát sinh những vấn đề âm thầm nhất.

Logo Tạp chí Sức khỏe trẻ em
© Bản quyền 2024 Sức khỏe Trẻ em
Hotline: Hà Nội - (024) 37 765 156 / TP HCM - 0936813116