Chủ Nhật, 15/06/2025 10:14 (GMT+7)

Nhiều bệnh ung thư ngày càng trẻ hoá, có tính di truyền, bố mẹ mắc, con cái cũng nguy cơ

Ung thư, căn bệnh được xem là “án tử” – đang ngày càng phổ biến và có xu hướng trẻ hóa. Các nhà khoa học chỉ ra yếu tố di truyền đóng vai trò đáng kể khi 5–15% bệnh nhân ung thư vú và 20% bệnh nhân ung thư buồng trứng có liên quan đến di truyền.
Ảnh đại diện tin bài

PGS.TS Nguyễn Tuấn Tùng – Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai cho hay: Ung thư di truyền là một dạng ung thư liên quan trực tiếp đến các biến đổi di truyền, chiếm 5-15% các loai ung thư.

Gần 8.500 người Việt tử vong vì ung thư mỗi năm, bệnh không chừa người trẻBệnh viện đầu tiên tại Việt Nam đầu tư hệ thống robot xạ phẫu tích hợp AI điều trị ung thưCảnh báo nguy cơ ung thư từ “xiên bẩn” kém vệ sinh bán ven đường

Chính vì vậy, việc tầm soát gene, đặc biệt ở những người có người thân mắc ung thư có thể giúp phát hiện sớm nguy cơ và chủ động phòng ngừa.

Thông tin trên được các chuyên gia nhấn mạnh tại Hội nghị khoa học "Di truyền ung thư" do Bệnh viện Bạch Mai tổ chức hôm nay (14/6).

Hội nghị có sự góp mặt của những tên tuổi lớn trong lĩnh vực như GS Yoon Sook-Yee (Malaysia), GS Mai Trọng Khoa, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, PGS Trần Đức Phấn - Chủ tịch Hội Di truyền Y học Việt Nam, cùng lãnh đạo và chuyên gia đầu ngành tại Bệnh viện Bạch Mai.

Những loại ung thư nào có yếu tố nguy cơ di truyền?

Theo PGS.TS Nguyễn Tuấn Tùng – Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai: Ung thư di truyền là một dạng ung thư liên quan trực tiếp đến các biến đổi di truyền, chiếm 5-15% các loai ung thư. Những đột biến này thường ảnh hưởng đến các gen kiểm soát sự phân chia tế bào và sửa chữa AND, dẫn đến sự phát triển không kiểm soát của tế bào, từ đó hình thành khối u.

PGS.TS Tuấn Tùng cho hay, các loại ung thư di truyền phổ biến như ung thư vú, ung thư trực tràng, ung thư buồng trứng…

Làm rõ thêm, PGS.TS Phạm Cẩm Phương - Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội) nhận định, một số bệnh ung thư như ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tụy, ung thư đại trực tràng đã được chứng minh có liên quan đến các đột biến gen như BRCA1, BRCA2.

Những người mang các đột biến gen di truyền, từ bố mẹ sang con cái… này có nguy cơ mắc bệnh ung thư ở độ tuổi sớm hơn so với những người không mang gen.

"Ví dụ như ung thư vú, chúng ta thường gặp ở các phụ nữ trên 60 tuổi nhưng nếu người mang đột biến gen có tính chất di truyền sẽ mắc bệnh sớm hơn, có người chỉ 40 tuổi, thậm chí 30 tuổi"- PGS.TS Phạm Cẩm Phương nói.

Chuyên gia cũng thông tin thêm, gần đây, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng yếu tố di truyền có thể liên quan đến ung thư phổi. "Chúng ta vẫn nghĩ chỉ liên quan đến yếu tố môi trường sống thì ngày nay các nghiên cứu trên thế giới cũng đã cho thấy, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư phổi thì tỷ lệ người thân của họ mắc ung thư phổi cũng cao hơn gia đình không có người mắc bệnh"- PGS.TS Phạm Cẩm Phương phân tích.

Nhiều bệnh ung thư ngày càng trẻ hoá, có tính di truyền, bố mẹ mắc, con cái cũng nguy cơ- Ảnh 2.

PGS.TS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) và các chuyên gia trao đổi tại hội nghị.

Chuyên gia khuyến cáo gì với những người có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư?

Theo PGS.TS Nguyễn Tuấn Tùng, việc phát hiện sớm các đột biến di truyền có thể giúp người bệnh và gia đình thực hiện các biện pháp phòng ngừa hoặc kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện ung thư ở giai đoạn đầu, tăng cơ hội điều trị hiệu quả, kéo dài thời gian sống khỏe mạnh.

Ngày nay, với sự tiến bộ của các phương thức chẩn đoán hiện đại, tiên tiến như giải trình tự thế hệ mới (NGS) phân tích, chẩn đoán bệnh ở mức độ gen, sinh học phân tử kết hợp với các phương pháp điều trị như các thuốc điều trị đích, liệu pháp miễn dịch… đã kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh"- PGS Tuấn Tùng khẳng định.

PGS.TS Phạm Cẩm Phương thông tin tại Bệnh viện Bạch Mai, việc tư vấn di truyền đã được triển khai trong vài năm gần đây một cách bài bản theo nguyên tắc "4 đúng": đúng người bệnh, đúng lý do, đúng loại xét nghiệm và giải thích đúng kết quả. Điều này không chỉ mang lại lợi ích y học mà còn hỗ trợ tâm lý và kế hoạch phòng bệnh cho cả người thân trong gia đình có yếu tố nguy cơ.

Do đó, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu nhấn mạnh, với những người có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư, các thành viên trong gia đình cần được tầm soát và theo dõi sức khỏe định kỳ một cách chặt chẽ.

"Cần nhận thức rõ tầm quan trọng của kiểm tra sức khỏe định kỳ, đặc biệt là với những người có nguy cơ cao. Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp như chế độ ăn uống, luyện tập thể dục, tránh các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá cũng rất quan trọng trong phòng ngừa ung thư.

Đối với những bệnh nhân mang các đột biến gen di truyền, có thể áp dụng các liệu pháp điều trị đích nhắm vào các đột biến gen này. Việc sử dụng liệu pháp điều trị cá thể hóa dựa trên đột biến gen có thể giúp giảm nguy cơ tái phát và di căn ở giai đoạn sớm, cũng như nâng cao hiệu quả điều trị ở giai đoạn muộn"- PGS .TS Phạm Cẩm Phương cho biết thêm.

Nhiều bệnh ung thư ngày càng trẻ hoá, có tính di truyền, bố mẹ mắc, con cái cũng nguy cơ- Ảnh 3.

PGS.TS Phạm Cẩm Phương thăm khám cho bệnh nhân tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai).

Hội nghị Di truyền ung thư thu hút nhiều đại biểu là các thầy thuốc, nhà nghiên cứu về ung thư, …trong nước và quốc tế với 14 bài báo cáo khoa học mang tính chuyên sâu, cập nhật những tiến bộ mới nhất trên thế giới trong lĩnh vực chẩn đoán, điều trị và tư vấn di truyền ung thư: Chẩn đoán di truyền, điều trị đích, sinh học phân tử và tư vấn di truyền bệnh nhân ung thư.

Hội nghị cũng là nơi để các bác sỹ chuyên ngành ung thư và di truyền – sinh học phân tử có cơ hội gặp gỡ, trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm về tiến bộ mới trong tầm soát, phát hiện sớm, tư vấn di truyền và điều trị đích, từ đó góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư.

Đức Anh (theo suckhoedoisong.)
Một đứa trẻ khác biệt không cần bị sửa chữa, mà cần được hiểu
Một đứa trẻ khác biệt không cần bị sửa chữa, mà cần được hiểu

(SKTE) - Trong nhiều cuộc trò chuyện với phụ huynh, có một câu hỏi lặp lại khá nhiều: “Làm sao để con trở lại bình thường?”. Câu hỏi đó nghe rất tự nhiên, nhưng cũng cho thấy một điều – chúng ta đang nhìn sự khác biệt của trẻ như một điều cần phải sửa. Trong khi thực tế, có những đứa trẻ không cần trở thành “bình thường” theo cách người lớn định nghĩa, mà cần được hiểu đúng để có thể phát triển theo cách phù hợp với chính mình.

Suy dinh dưỡng ẩn Khi trẻ “ăn đủ” nhưng vẫn thiếu chất cần thiết
Suy dinh dưỡng ẩn: Khi trẻ “ăn đủ” nhưng vẫn thiếu chất cần thiết

(SKTE) - Nhiều phụ huynh hiện nay nhìn vào cân nặng của con, thấy bé bụ bẫm, mũm mĩm, cảm giác yên tâm rằng con đang khỏe mạnh. Thế nhưng, sức khỏe không chỉ được đo bằng số trên cân hay chiều cao tăng đều. Thực tế, có những trẻ “ăn đủ” nhưng cơ thể vẫn thiếu vi chất, sức đề kháng yếu, phát triển chiều cao chậm, hoặc mệt mỏi kéo dài. Đây là suy dinh dưỡng ẩn – một thách thức âm thầm nhưng ảnh hưởng lâu dài đến thể chất, tinh thần và tương lai của trẻ.

Hành trình tiến bộ của trẻ khuyết tật chậm mà đầy ý nghĩa
Hành trình tiến bộ của trẻ khuyết tật chậm mà đầy ý nghĩa

(SKTE) - Có những hành trình không thể đo bằng mốc thời gian hay những chuẩn phát triển quen thuộc. Với trẻ khuyết tật, sự tiến bộ không đến theo cách người lớn vẫn kỳ vọng. Có khi phải mất nhiều tháng cho một thay đổi rất nhỏ. Nhưng nếu đủ kiên nhẫn để nhìn lại, sẽ thấy những bước đi tưởng chừng chậm ấy chưa bao giờ là vô nghĩa – chỉ là chúng diễn ra theo một cách rất khác.

Những dấu hiệu sức khỏe ở trẻ mà người lớn thường “cho qua”
Những dấu hiệu sức khỏe ở trẻ mà người lớn thường “cho qua”

(SKTE) - Không phải mọi vấn đề sức khỏe ở trẻ đều bắt đầu bằng sốt cao hay cơn đau rõ rệt. Có những thay đổi rất nhỏ, diễn ra lặng lẽ trong sinh hoạt hằng ngày: một cái nheo mắt khi nhìn bảng, một thói quen cúi sát vở, hay chỉ là việc trẻ nhanh mệt hơn vào cuối ngày. Những điều này hiếm khi khiến người lớn lo lắng ngay. Nhưng chính vì “không đáng kể”, chúng lại dễ bị bỏ qua – cho đến khi không còn là những chi tiết nhỏ nữa.

Phòng khám đa khoa trong hệ sinh thái y tế Vai trò đang bị đánh giá thấp
Phòng khám đa khoa trong hệ sinh thái y tế: Vai trò đang bị đánh giá thấp

(SKTE) - Nhiều gia đình có thói quen rất rõ: bệnh nhẹ thì “tự theo dõi thêm”, bệnh nặng mới đi bệnh viện. Phòng khám đa khoa vì thế thường đứng ở một vị trí lưng chừng – không hẳn là lựa chọn đầu tiên, cũng không phải điểm đến khi thật sự lo lắng. Nhưng nếu nhìn từ thực tế vận hành của hệ thống y tế, chính khoảng “lưng chừng” ấy lại là nơi có thể quyết định rất nhiều thứ: phát hiện sớm hay muộn, xử lý đơn giản hay phức tạp, và quan trọng hơn, hành trình chăm sóc sức khỏe có được đi đúng hướng ngay từ đầu hay không.

Trường Đại học Y Dược - ĐHQG Hà Nội chính thức đào tạo Tiến sĩ ngành Răng – Hàm – Mặt
Trường Đại học Y Dược - ĐHQG Hà Nội chính thức đào tạo Tiến sĩ ngành Răng – Hàm – Mặt

(SKTE) - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa chính thức cho phép Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đào tạo trình độ Tiến sĩ ngành Răng – Hàm – Mặt. Đây là dấu mốc quan trọng trong chiến lược nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực nha khoa trình độ cao và thúc đẩy nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam.

Tái khám và theo dõi sau điều trị Mắt xích thường bị bỏ quên
Tái khám và theo dõi sau điều trị: Mắt xích thường bị bỏ quên

(SKTE) - Trong nhiều trường hợp, hành trình chăm sóc sức khỏe cho trẻ kết thúc ngay khi triệu chứng biến mất. Đứa trẻ hết sốt, hết ho, ăn uống trở lại, gia đình thở phào – và mọi thứ được xem như đã xong. Nhưng với người làm nghề, đó thường chưa phải là điểm kết thúc, mà chỉ là lúc cơ thể bắt đầu bước vào giai đoạn hồi phục thực sự. Chính khoảng “đã ổn rồi” ấy, nếu không được theo dõi, lại là nơi dễ phát sinh những vấn đề âm thầm nhất.

Logo Tạp chí Sức khỏe trẻ em
© Bản quyền 2024 Sức khỏe Trẻ em
Hotline: Hà Nội - (024) 37 765 156 / TP HCM - 0936813116