Thứ Năm, 26/03/2026 08:48 (GMT+7)

Dùng sữa và các chế phẩm từ sữa thế nào để trẻ phát triển tối ưu chiều cao và trí tuệ?

Sữa và chế phẩm sữa là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, trong thành phần có đầy đủ các chất đạm, chất béo, đường, vitamin và chất khoáng giúp cơ thể phát triển, khỏe mạnh và phòng chống bệnh tật.
Ảnh đại diện tin bài

Sữa là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, không thể thiếu trong bữa ăn học đường.

Tâm lý “đợi đến khi nặng mới đi khám”: câu chuyện không chỉ của cá nhânĐạo đức nghề y trong bối cảnh y học công nghệ caoThư mời tham gia Chương trình 'Ngày hội kết nối Nhân ái vì Trẻ em'

Sữa là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao

Theo các chuyên gia của Viện Dinh dưỡng, sữa và chế phẩm sữa là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng giá trị sinh học cao, dễ hấp thu và chuyển hóa đối với cơ thể trẻ.

Sữa và chế phẩm sữa là nguồn cung cấp canxi quan trọng cho trẻ, đặc biệt trong giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì, xương phát triển nhanh, nhu cầu canxi và các chất dinh dưỡng tăng cao.

Chất đạm: Chất đạm (Protein) của sữa rất quý vì thành phần acid amin cân đối và độ đồng hóa cao.

Chất béo: Chất béo (Lipid) của sữa có khoảng 29% acid béo không no có một nối đôi và 6% acid béo không no có nhiều nối đôi. Là dung môi hòa tan và tăng khả năng hấp thu các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K.

Chất khoáng: Sữa có nhiều chất khoáng khác nhau như canxi, đồng, sắt, kẽm, magie, kali, selen... Sữa có hàm lượng canxi cao, 100ml sữa cung cấp 100 – 120mg canxi. Canxi trong sữa ở dạng kết hợp với casein, tỷ số canxi/ phospho thích hợp nên dễ hấp thu Vitamin: Sữa chứa rất nhiều loại vitamin như vitamin nhóm B (vitamin B1, B3, B5, B6 và B9…), vitamin C, vitamin D, vitamin E và vitamin K. Đặc biệt có hàm lượng cao vitamin A, vitamin B2 và vitamin B12.

Sữa và chế phẩm sữa là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, trong thành phần có đầy đủ các chất đạm, chất béo, đường, vitamin và chất khoáng giúp cơ thể phát triển, khỏe mạnh và phòng chống bệnh tật.

Sữa chua chứa vi khuẩn rất có lợi cho đường ruột

Sữa chua được chế biến từ sữa bằng cách lên men lactic với các chủng vi khuẩn có lợi cho đường ruột. Là chế phẩm của sữa nên có đầy đủ thành phần các chất dinh dưỡng của sữa.

Ít đường lactose: Trong sữa chua, đường lactose được lên men chuyển thành acid lactic, giúp cơ thể hấp thu các chất dinh dưỡng dễ dàng hơn, thích hợp cho người không dung nạp đường lactose.

Vi khuẩn có ích: Sữa chua cung cấp cho cơ thể một lượng lớn các vi khuẩn có lợi giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, bảo vệ hệ tiêu hóa, tăng cường hấp thu các chất dinh dưỡng.

Phô mai giàu canxi

Phô mai là chế phẩm của sữa, được chế biến bằng cách lên men lactic sữa, sau đó tách lấy phần chất đông và ủ lên men. Là chế phẩm của sữa nên phô mai có đầy đủ thành phần các chất dinh dưỡng của sữa.

Đậm độ dinh dưỡng cao: Phô mai có tất cả các thành phần dinh dưỡng tương tự như sữa, nhưng ở đậm độ cao hơn. Chất đạm của phô mai đã được thủy phân một phần nên hấp thu dễ dàng hơn.

Ít đường lactose: Phô mai có rất ít đường lactose nên có thể sử dụng cho người không dung nạp đường lactose.

Lựa chọn sữa và chế phẩm sữa theo khuyến nghị của tháp dinh dưỡng hợp lý của từng lứa tuổi trẻ em. 

Trẻ uống bao nhiêu sữa là đủ?

Các chuyên gia Viện Dinh dưỡng khuyến cáo, khi lựa chọn sữa và chế phẩm sữa nên xem kỹ nhãn mác về hạn sử dụng, thành phần dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất đạm, canxi và chất béo, lượng đường bổ sung…

Lựa chọn sữa và chế phẩm sữa theo khuyến nghị của tháp dinh dưỡng hợp lý của từng lứa tuổi trẻ em. Nên chọn sữa và sữa chua ít đường hoặc không đường. Nên chọn các sản phẩm đã được cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền. Nếu trẻ có nguy cơ thừa cân, béo phì nên chọn sữa có hàm lượng chất béo thấp hoặc đã được tách béo.

Một đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa cung cấp 100mg canxi tương đương 100ml sữa dạng lỏng; 100g sữa chua hay 15g phô mai.

Trẻ 3-5 tuổi mỗi ngày nên sử dụng 4 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 15g phô mai (1 miếng phô mai), 100ml sữa chua (1 hộp sữa chua) và 200ml sữa dạng lỏng (2 ly sữa nhỏ).

Trẻ 6-7 tuổi mỗi ngày nên sử dụng 4,5 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 15g phô mai (1 miếng phô mai), 100ml sữa chua (1 hộp sữa chua) và 250ml sữa dạng lỏng (2,5 ly sữa nhỏ).

Trẻ 8-9 tuổi mỗi ngày nên sử dụng 5 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 30g phô mai (2 miếng phô mai), 100ml sữa chua (1 hộp sữa chua) và 200ml sữa dạng lỏng (2 ly sữa nhỏ).

Trẻ 10-19 tuổi mỗi ngày nên sử dụng 6 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 30g phô mai (2 miếng phô mai), 200ml sữa chua (2 hộp sữa chua) và 200ml sữa dạng lỏng (2 ly sữa nhỏ).

Cần sử dụng đồng thời cả 3 loại chế phẩm sữa dạng lỏng, sữa chua và phô mai. Nên sử dụng sữa dạng lỏng, sữa chua ít đường hoặc không đường. Trong trường hợp trẻ không dung nạp đường lactose thì nên tập cho trẻ uống sữa dần dần, hoặc thay thế bằng sữa chua và phô mai.

Người 20-49 tuổi mỗi ngày nên sử dụng 3 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 15g phô mai (1 miếng phô mai), 100ml sữa chua (1 hộp sữa chua) và 100ml sữa dạng lỏng (1 ly sữa nhỏ).

Người 50-69 tuổi mỗi ngày nên sử dụng 3,5 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 15g phô mai (1 miếng phô mai), 100ml sữa chua (1 hộp sữa chua) và 150ml sữa dạng lỏng (1,5 ly sữa nhỏ).

Người trên 70 tuổi mỗi ngày nên sử dụng 4 đơn vị ăn sữa và chế phẩm sữa, tương đương 30g phô mai (2 miếng phô mai), 100ml sữa chua (1 hộp sữa chua) và 100ml sữa dạng lỏng (1 ly sữa nhỏ).

PV (suckhoedoisong.vn)
Sàng lọc sớm trong y tế – đầu tư nhỏ nhưng quyết định chi phí dài hạn
Sàng lọc sớm trong y tế – đầu tư nhỏ nhưng quyết định chi phí dài hạn

(SKTE) - Trong nhiều trường hợp, chi phí điều trị không bắt đầu từ lúc bệnh được chẩn đoán, mà từ thời điểm những tín hiệu ban đầu bị bỏ qua. Một xét nghiệm. sớm thường không tạo ra cảm giác cấp thiết. Nhưng khi nhìn lại toàn bộ hành trình của một bệnh lý, chính giai đoạn “chưa đủ để gọi là bệnh” lại là thời điểm quyết định mọi thứ – từ mức độ can thiệp, chi phí điều trị, cho đến chất lượng sống về sau.

Sức khỏe công nhân trong môi trường công nghiệp và những rủi ro ít được gọi tên
Sức khỏe công nhân trong môi trường công nghiệp và những rủi ro ít được gọi tên

(SKTE) - Khi nói về sức khỏe công nhân, người ta thường nghĩ đến tai nạn lao động hoặc các bệnh nghề nghiệp đã được nhận diện. Nhưng trên thực tế, phần lớn những ảnh hưởng sức khỏe lại không nằm ở những tình huống rõ ràng đó. Chúng tích lũy từ nhịp làm việc, từ điều kiện lao động, từ cách cơ thể phải thích nghi mỗi ngày – và vì diễn ra âm thầm, nên thường ít được gọi tên.

Gia tăng số ca mắc viêm màng não mô cầu
Gia tăng số ca mắc viêm màng não mô cầu

SKTE - Theo báo cáo giám sát từ Bộ Y tế, số ca mắc viêm màng não mô cầu trong những tháng đầu năm 2026 đang có xu hướng gia tăng so với cùng kỳ. Đáng chú ý, nhóm trẻ em dưới 15 tuổi chiếm gần một nửa số trường hợp được ghi nhận, đặt ra yêu cầu nâng cao cảnh giác và chủ động phòng bệnh trong cộng đồng.

Tích hợp ba đầu số khẩn cấp 113, 114 và 115 thành một đầu số chung là 113 cho cấp cứu, cứu hỏa, cứu nạn toàn quốc
Tích hợp ba đầu số khẩn cấp 113, 114 và 115 thành một đầu số chung là 113 cho cấp cứu, cứu hỏa, cứu nạn toàn quốc

Các bộ ngành đang xây dựng đề án tích hợp ba đầu số khẩn cấp 113, 114 và 115 thành một đầu số chung là 113, dùng để tiếp nhận các cuộc gọi liên quan đến an ninh trật tự, cháy nổ, cứu hộ cứu nạn và cấp cứu y tế ngoại viện trên phạm vi toàn quốc.bDự kiến từ quý 3-2027 sẽ thức ra mắt hệ thống 113 đi vào hoạt động.

Khi sức khỏe trở thành mối quan tâm muộn của người trẻ
Khi sức khỏe trở thành mối quan tâm muộn của người trẻ

(SKTE) - Người trẻ hôm nay quan tâm đến nhiều thứ: học tập, công việc, cơ hội, trải nghiệm. Nhưng trong danh sách ưu tiên đó, sức khỏe thường đứng khá xa. Không phải vì họ không hiểu tầm quan trọng của sức khỏe, mà vì họ tin rằng mình còn đủ trẻ để “chưa cần nghĩ đến”. Chỉ đến khi cơ thể lên tiếng rõ ràng hơn, việc quan tâm mới bắt đầu – và khi đó, đôi khi đã muộn hơn một nhịp.

Khi một đứa trẻ không thể diễn đạt, chúng ta đã thực sự hiểu đúng
Khi một đứa trẻ không thể diễn đạt, chúng ta đã thực sự hiểu đúng

(SKTE) - Không phải đứa trẻ nào cũng có thể nói ra điều mình muốn. Có em im lặng, có em chỉ nói vài từ rời rạc, có em phản ứng bằng cách mà người lớn khó hiểu. Trong những tình huống đó, câu hỏi thường đặt ra là: “Vì sao con không nói?” Nhưng có lẽ, câu hỏi cần thiết hơn lại là: khi trẻ chưa thể diễn đạt, chúng ta đã thực sự cố gắng để hiểu theo cách của trẻ hay chưa.

Logo Tạp chí Sức khỏe trẻ em
© Bản quyền 2024 Sức khỏe Trẻ em
Hotline: Hà Nội - (024) 37 765 156 / TP HCM - 0936813116